Tin tức Việt

Thứ Ba, 6 tháng 10, 2015

Những ảo tưởng về TPP (Trans-Pacific Partnership)

Nguồn tin: Góc nhìn Alan

Những ảo tưởng về TPP (Trans-Pacific Partnership)

Alan Phan

27 July 2015

clouds-300x149

Đời sống không phải là một bài toán cần giải đáp mà là một thực tại cần trải nghiệm – Life is not a problem to be solved, but a reality
to be experienced – Soren Kierkegaard

Khoảng 2002, trong cuộc tranh cãi với một đại gia Mỹ, hai chúng tôi đánh cược vào một tình thế chính trị đang “hot” lúc bấy giờ. Khủng bố Hồi Giáo đã đánh sập tòa nhà World Trade Center ở New York năm ngoái, dân Mỹ sôi sục với an ninh quốc gia, và TT G. W. Bush đang chuẩn bị đổ quân vào Iraq, lấy lý do tiện lợi là Hussein có thể đe dọa Mỹ và thế giới với “weapons of massive destruction” (WMD, vũ khí có sức tàn phá diện rộng). Ông bạn đại gia Mỹ hờ hởi tin rằng cuộc chiến mới sẽ thay đổi bộ mặt chính trị và xã hội của Trung Đông, đặc biệt là kinh tế dầu khí… Là siêu cường duy nhất còn lại, khi Mỹ kiểm soát nguồn năng lượng quan trọng này, thế giới sẽ có Pax Americana (thời đại thanh bình kiểu Mỹ)….

Quan điểm trái ngược của tôi là bộ mặt Trung Đông đã hình thành qua cả ngàn năm lịch sử, văn hóa, chính trị, xã hội, giáo dục… nó sẽ không thể thay đổi trong vài năm chỉ vì Mỹ và ông Bush có ước muốn như vậy. Dù lý tưởng và triết thuyết có hay đẹp đến đâu, thực tại luôn là một “son of a bitch” (con chó đẻ). Tôi kết luận là sau 2 nhiệm kỳ (nếu ông Bush tái cử) , Iraq sẽ không khác gì ngày nay, a messy nation under some form of dictatorial regime (một quốc gia hỗn loạn dưới một hình thức độc tài nào đó). Riêng Trung Đông, it’s the same old story (thành ngữ VN là –vũ như cẩn).

Lúc đó, căn nhà ở Hồng Kông của tôi có trưng bày một lộc bình thời Khang Hy rất quý. Tôi không sưu tầm đồ cổ, nhưng mua được với giá quá hời từ một công ty nhà nước nhỏ ở Xian (Tây An).  Ông đại gia Mỹ thèm thuồng đòi mua lại, thuê cả người định giá là khoảng 30 ngàn đô la, nhưng tôi không bán. Sẵn đó, ông cược với tôi là nếu nhận xét của ông đúng, khi Iraq và Trung Đông đã ngoan ngoãn trong vòng tay Mỹ, thì 6 năm nữa, ông sẽ làm chủ chiếc lộc bình này. Nếu ông sai, ông sẽ ghé Hồng Kong và trả tôi 30 ngàn tiền thua cuộc. Tôi đồng ý, nhưng năm sau, vợ tôi bán chiếc lộc bình khi trang trí lại nhà cửa (không biết sau này ông TBT Trọng có là chủ nhân?). Tôi thấp thỏm cả mấy năm trời, nghĩ là phải mất 30 ngàn nếu thua cược. May mắn sao, trước khi TT Bush hết nhiệm kỳ hai, ông đại gia Mỹ ghé Hồng Kong, tìm tôi và trả tôi chi phiếu 30 ngàn đô la như một gentleman.

TPP và cao trào của hy vọng

Vừa rồi, khi đài truyền hình Saigon TV ở California phỏng vấn tôi về TPP, tôi tranh luận với ông bạn cũ Lương Đức Hợp, là TPP sẽ chẳng thay đổi gì bộ mặt chính trị và xã hội của Việt Nam chút nào trong thập niên tới. Về kinh tế vĩ mô thì TPP có thể ảnh hưởng nhưng không nhiều; riêng lợi và hại cho Việt Nam cũng chưa chắc đã cân xứng như những lời xưng tụng.

Trước khi tôi trình bày quan điểm, anh Hợp cho rằng TPP, theo pháp lý, sẽ bắt Việt Nam phải thay đổi cơ chế theo thị trường, quyền điều hành công đoàn sẽ tự do hơn, nhân quyền được tôn trọng, bản quyền trí tuệ được bảo vệ và quyền lợi của doanh nghiệp tư nhân sẽ do pháp trị định đoạt. Khi vào TPP, Việt Nam sẽ được công nhận chính thức là một thành viên mới của nền kinh tế liên thông, sẽ gia tăng xuất khẩu, cùng thu nhập của người dân và quan trọng nhất, là Việt Nam sẽ đứng về phía Mỹ để thoát Trung.

Tôi nhắc lại, thực tại là son of a bitch. Về pháp lý và cơ chế “hành” chính, Việt Nam có một hiến pháp vừa hoàn thiện, một bộ luật dầy đặc những khôn ngoan của mọi triết thuyết, và một bộ máy gồm toàn các tiến sĩ, giáo sư, học giả…với đủ loại bằng cấp đen trắng đỏ vàng. Nhưng mọi tầng lớp của xã hội, từ người làm ra luật, thi hành luật, hay “chịu đựng” luật… đều giống nhau ở chỗ “nobody give a shit” (không ai quan tâm). Xui bị công an kêu lại thì lo mà móc túi nộp mãi lộ. Không mấy ai mất thì giờ (hay mất mạng) để tranh cãi trừ khi mắc bệnh tâm thần (kiểu VN).

Ảo tưởng muôn đời của lý tưởng Âu Mỹ

Mọi điều phân tích khác của anh Hợp rất tương tự với  lý luận mà Nixon và Kissinger đã “bán” cho dân Mỹ 43 năm trước, khi ôm hôn Mao và “mở cửa” Trung Quốc. Hai ông chính trị gia cho rằng nếu giúp cho Trung Quốc giàu có thịnh vượng hơn, chính quyền Cộng Sản sẽ “tự diễn biến” và trở nên dân chủ, tự do, nhân đạo, hòa bình…hơn. Sau đó, tiền ào ạt đổ vào Trung Quốc, vô sản biến thành “tư bản đỏ” nhưng các vị tư bản COCC này lại rất khác biệt với những hình tượng về tư bản mà Mỹ mong ước. XHCN theo sắc mầu Trung Quốc hay Thiên An Môn là một miếng xương hóc búa khó nhai cho Mỹ và những đồng minh.

Lợi và hại của TPP trên nền kinh tế Việt

Ngoài cái ảo tưởng phổ thông nói trên, hiệp định TPP còn chất chứa nhiều ảo tưởng khác. Nhưng trước khi bàn sâu về ảo tưởng, cho tôi định vị lại những “lợi” và “hại” của TPP với nền kinh tế Việt Nam.

Những cái lợi thì các mạng truyền thông và chuyên gia của chính phủ đã “ca cảnh” quá nhiều:

-          Mở rộng thị trường xuất khẩu qua nhiều quốc gia thành viên, tạo hiệu ứng tăng trưởng mạnh mẽ cho GDP và thu nhập cá nhân (dựa trên GDP);

-          Lượng FDI và FII (đầu tư trực tiếp và gián tiếp của nước ngoài) sẽ gia tăng vì theo TPP, hàng rào thuế quan, bản quyền trí tuệ và thao túng tỷ giá…sẽ giảm thiểu tối đa. Ngoài ra, khi đầu tư nhà máy vào Việt Nam, những dự án FDI từ Trung Quốc hay Hàn Quốc sẽ hưởng lợi từ thị trường của các quốc gia thành viên. Cũng trong khung cảnh tích cực đó, kiều hối (một thành tố vô cùng quan trọng cho ngân sách) sẽ tát nước theo mưa.

-          Khi kinh tế phát triển và hội nhập sâu, nhu cầu lao động sẽ lên cao hơn và cấp chuyên viên sẽ hăng hái trau luyện kỹ năng thêm để tăng thu nhập.

-          Với chuẩn mực mới về cạnh tranh quốc tế, có thể sản phẩm và dịch vụ của các doanh nghiệp Việt sẽ được cải thiện về chất lượng, công nghệ và thương hiệu.

Những cái lợi trên cũng đi kèm với vài thực tế hơi chua chát và  những cái hại mà TPP sẽ gây ra cho nền kinh tế:

-          Hiện nay, 72% tổng lượng xuất khẩu của Việt Nam là từ các doanh nghiệp FDI. Tôi không tìm ra dữ liệu là phần chia lại cho lao động và thuế lợi tức của Việt Nam được bao nhiêu phần trăm? Tôi đoán là dưới 5% vì giá nhân công quá rẻ, gia công những phân khúc sản xuất nhỏ là chính, rồi chánh phủ lại miễn trừ nhiều loại thuế với giá khuyến mãi cho đất đai hạ tầng. Như tình trạng đã xẩy ra cho Trung Quốc, khi những điều kiện kiếm tiền của nhà đầu tư ngoại kém đi (giá nhân công, thuế, luật, giá đất…lên cao) , họ sẽ đi tìm những nơi chốn khác.

-          Kỹ năng chuyên viên và chất lượng sản phẩm có tăng nhưng sức cạnh tranh của doanh nghiệp nội địa rất yếu. Như một cậu học trò mẫu giáo được khuyến khích để bắt kịp các bạn đã vào đại học. Việc khả thi sẽ là một vấn nạn về khoảng cách kiến thức, tư duy và thời gian.

-          Với TPP, chúng ta không kiếm được nhiều ở các thị trường Âu-Mỹ-Nhật, nhưng thị trường nội địa phải được rộng mở để hàng ngoại tự do xâm nhập. Khi sản phẩm Việt bị giá rẻ của hàng Trung Quốc, Thai Lan cạnh tranh từ phía thấp, còn lại bị đè bẹp bởi chất lượng của hàng Âu, Mỹ, Nhật…ở phía trên; thì lợi thế cạnh tranh càng ngày càng thu hẹp cho mọi doanh nghiệp Việt.

-          Đáng quan tâm nhất là lĩnh vực nông nghiệp: lúng túng với bộ máy “hành” chính nông thôn, phí thuế ngất ngưỡng cao rồi lối canh tác cổ truyền manh mún, nông dân Việt sẽ chịu gánh nặng khủng của TPP.

-          Trong khi đó, với dòng tiền mới từ FDI và kiều hối, quyền lợi và quyền lực của nhóm nhỏ siêu giàu sẽ gia tăng mạnh mẽ. Các phe nhóm không những kiểm soát mọi hoạt động huyết mạch như tài chánh ngân hàng chứng khoán; mà còn tạo ra các chính sách hổ trợ đắc lực cho những dự án BDS, xây dựng hạ tầng, khai thác khoáng sản…của phe nhóm.

Chuyện nhân quyền

Giữa lợi và hại, tùy vị thế chánh trị và xã hội, TPP sẽ khiến vấn đề “nhân quyền” trở nên ít cấp bách hơn vì người Việt chỉ cần chút cải thiện về mức sống vật chất là đã thỏa mãn và chấp nhận mọi bất cập từ chính phủ. Chúng ta thấy rõ là sau khi “đổi mới”, cho đến nay, môi trường sinh hoạt của Việt Nam còn xuống cấp, tệ hơn cả Lào, Kampuchia (chưa cần so sánh với Singapore hay Hàn Quốc); nhưng phần lớn người Việt, kể cả các giới trẻ, đã happy ăn nhậu, cà phê, mê chuyện siêu sao, đá bóng…mà không quan tâm đến chính trị hay văn hóa. Mặc cho nước ngập mỗi ngày mưa tại Hà Nội và Saigon, hay ô nhiễm thực phẩm, không khí, hay kinh tế bị Trung Quốc đô hộ; dân Việt vẫn được tiếng là “hạnh phúc và lạc quan” nhất nhì thế giới. Khi người dân địa phương không “care” thì mọi hoạt động về nhân quyền của các hội đoàn trong hay ngoài nước sẽ èo uột hơn. Các chính phủ Âu, Mỹ…cũng sẽ thờ ơ với vấn nạn này, không cần phải đánh võ mồm để làm vui lòng nhóm cử tri gốc Việt.

Ảo tưởng của hai bên

Cùng với một thực tại khá chua chát, TPP là xúc tác cho vài ảo tưởng khác của nhiều thành phần.

Ngoài ảo tưởng về dân chủ tự do như đã nói bên trên, chính phủ Mỹ luôn mơ về một Việt Nam mạnh mẽ, liên minh với các đồng minh tư bản để chặn tham vọng bá chủ của Trung Quốc trong khu vực. TT Obama còn gắng hoàn thành việc “xoay trục về châu Á” và TPP như một di sản lịch sử vào cuối nhiệm kỳ. Cái giá phải trả cho ảo tưởng này thực ra không to lớn lắm so với kích cỡ của kinh tế Mỹ, nhưng thất vọng là thất vọng. Quan hệ giữa chính phủ và đảng CS của Việt Nam và Trung Quốc sâu xa hơn cả 16 chữ vàng. Thực ra nó là “lá chắn” của cả 2 đảng bộ trước “diễn biến hòa bình”, đồng nghĩa với sự sinh tồn và quyền lực của vài chục triệu đảng viên tại 2 nước.

Trong khi đó, nhiều quan chức và chuyên gia Việt Nam lại ảo tưởng quá nhiều về “con bài” Mỹ trong bàn cờ mà họ cho là khôn ngoan, thủ đoạn của họ. Họ tin rằng chỉ việc để cho tư bản Mỹ vô làm ăn; rồi chém gió vô tội vạ về nhân quyền, tôn giáo, công đoàn…là chính phủ Mỹ sẽ mở rộng hồ bao (và biên giới) để các quan chức kiếm tiền và giấu tiền. Thêm vào đó, nếu đàn anh Trung Quốc có ức hiếp bóc lột nhiều quá, như chiếm đất chiếm biển…thì quân đội Mỹ sẽ mạnh tay can thiệp. Chính phủ Mỹ dù đôi khi giả vờ ngây thơ, nhưng khối điều nghiên chính trị, kinh tế của họ luôn nhậy bén. Họ biết tính ra từng con số (tiền hay sinh mạng) để thẩm định giá phải trả. Không cân xứng là không thực hiện, mặc cho những sáo ngữ “đối tác toàn diện” hay “toàn bịp”.

&&&&&

TPP không phải là hiệp ước thương mại tự do (free trade agreement –FTA) duy nhất của Việt Nam. Trong 2 năm qua, Việt Nam đã ký 8 FTA với ASEAN, ASEAN + , Hàn Quốc, Chile, Liên Minh Nga-Kazakistan-Belarus…Kết quả của các FTA này không gì là ấn tượng, vì ngoài những doanh nghiệp FDI, công ty nội địa Việt chưa đủ sản phẩm và dịch vụ chất lượng, giá cao để xâm nhập những thị trường này. Mức sống người dân không có cải thiện gì đáng kể. Nghịch lý và mâu thuẫn còn trùng điệp trong xã hội và cơ chế. Chỉ có những quan chức và đại gia là có thêm những phần bánh ngon ngọt.

Bây giờ, nếu được gia nhập TPP, miếng bánh này có thể lớn gấp nhiều lần các FTA hiện tại. Và may mắn thì người dân sẽ có chút mảnh vụn tung tóe đâu đó. Các lãnh đạo 2 chánh phủ Việt, Mỹ sẽ hờ hởi khen tặng nhau vì dù sao, TPP cũng là một cột mốc lịch sử như… hiệp định Geneva, hiệp định Paris, hay WTO hay hiệp ước song phương Việt-Mỹ.

Nhưng với khách quan của người ngoài cuộc, thì TPP là khi kẻ cắp gặp bà già.

Alan Phan

The post Những ảo tưởng về TPP (Trans-Pacific Partnership) appeared first on GÓC NHÌN ALAN.


Đăng ký: Viet Blogs
Nguồn tin

Cầu An

Nguồn tin: Góc nhìn Alan

CẦU AN

Ông Giáo Làng – Blog - 3 Oct 2015

peace of mind

Nói theo ngôn ngữ tâm linh thời thượng, vừa rồi, tôi có “hạn”. Chuyện là thế này:

Sau chuyến đi Hà Giang cuối tháng 9, tôi bị đau mắt. Chỉ qua một buổi tối, hai mắt sưng húp, nhức nhối, nhìn rất khó khăn. Hôm sau đi khám, bên cạnh việc kết luận bị đau mắt đỏ, cho đơn mua thuốc, bác sĩ còn cảnh báo:

- Hai mắt bác thủy tinh thể đều đục, nên xử lý sớm.

Tháng sau, gặp một nguời bạn Trưởng khoa mắt của một bệnh viện, anh khẳng định họ khuyên thế là đúng, nên thay thủy tinh thể nhân tạo sớm vì kỹ thuật đơn giản, tránh để lâu ngày, sau đó xử lý sẽ phức tạp.

Thế là tôi quyết định đi mổ mắt.

Sau vài lần tới bệnh viện làm các loại xét nghiệm, chiếu chụp, siêu âm, … bác sĩ bảo sang ngồi chờ ở phòng mổ. Phấn khởi vì bao “cửa ải” đã qua, vừa đi được mấy bước thì… ngã. Và cái tay bị gãy. Thế là việc mổ mắt phải tạm hoãn nhường chỗ cho việc bó bột cánh tay.

Nhiều nguời, khi gặp những sự không may thường tìm nguyên nhân từ những lực lượng siêu nhiên qua mấy ông thầy tướng. Con ốm, thầy phán do bà cô Tổ phạt vì cha mẹ trễ nải việc hương khói. Gặp tai nạn giao thông, thầy phán  do gặp phải ngày xấu, lại ra khỏi nhà vào giờ xấu, … nghĩa là những nguyên nhân không thể ai biết được, trừ thầy.

Xem ra trong lịch sử nước Nam ta, khó có ai giỏi hơn được Trạng Trình Nguyễn  Bỉnh Khiêm cả về nho, y, lý, số. Trong đời, cư sĩ am Bạch Vân chắc đã “phán” cả trăm nghìn câu, nhưng cho tới nay, hình như nguời ta chỉ thấy đúng đâu có chưa được dăm câu. Thế mà các thầy tướng số tân thời, phán câu nào được nguời ta tin sái cổ câu ấy (kể cả các vị mang học hàm học vị giáo sư tiến sĩ) thì quả là các bậc cao minh hiếm gặp.

Những chuyện “tâm linh”, “ngoại cảm” gần đây, đem xương trâu xương lợn biến thành hài cốt liệt sĩ, chuyện “hô phong hoán vũ” được “chém gió” ầm ầm càng tỏ cái thiếu sáng suốt của niềm tin mà căn cứ rất mù mờ của không ít nguời.

Tôi vốn “văn dốt vũ dát”, không đủ trình độ hiểu được cái “huyền bí” của Tạo Hóa nên khi gặp phải sự gì không may, thường trước hết tìm nguyên nhân từ chính bản thân mình. Ngay khi ngồi chờ kết quả chụp phim chuyện gãy tay, tôi đã “tự kiểm điểm” một cách nghiêm khắc bản thân:  tôi bị ngã gãy tay vì hôm ấy chân trái đau, lại bước đi hơi vội. Hơn nữa, đôi giày đi hôm ấy chỉ phù hợp với đất vườn (đế giày có đinh cứng, có thể cắm sâu vào đất tránh bị trượt ngã), lại đi trên sàn gạch men láng bóng nên việc bị trượt là điều dễ hiểu. Và (không biết có phải tinh thần AQ hay không), trong cái rủi lại thấy có cái may: ngã ngay trong bệnh viện nên việc cứu chữa rất “tiện lợi”, ngã trong bệnh viện chứ không phải trên đường đi chơi bằng xe máy nên không thể bị trách cứ rồi dẫn tới bị “cấm vận”; và sau đó, suốt hàng tháng mang cái tay bó bột lại thấy thêm may vì có cơ hội để phần nào thấm thía với  câu tục ngữ (dù đã thuộc từ lâu) “Giàu hai con mắt, khó hai bàn tay”.

Vì “thực sự cầu thị”, không trông chờ vào những lực lượng siêu nhiên, những việc tôi tính, tôi làm thường “thông đồng bén giọt”.

Không có điều kiện tìm hiểu nhưng qua những điều được chứng kiến cùng kinh nghiệm bản thân, tôi tin vào những hiểu biết mang tính chất “duy vật thô sơ” của mình. Cuộc sống của mỗi nguời do chính bản thân con nguời đó quyết định  có được sự hỗ trợ thêm của gia đình, quê hương và nơi, hoàn cảnh  sinh sống,… Chẳng nên tin vào một lực lượng thần bí nào.

Tôi biết trong cuộc sống, vẫn có nhiều điều bí ẩn, chưa thể giải thích được đó là do khoa học chưa phát triển chứ không còn tin có những lực lượng thần bí chi phối cuộc sống con người. Chẳng lẽ nguời phương Tây họ ở một thế giới khác ta? Vì sao không cầu cúng, lễ bái như ta, họ vẫn có cuộc sống văn minh, có nhiều thành tựu, … hơn ta. Cho nên, tín ngưỡng là một nét đẹp văn hóa thì nên gìn giữ, đây chính là “bản sắc dân tộc” khiến con người  trên Trái đất này có sự đa dạng, phong phú về văn hóa. Thế thôi!

Ngay triết lý “ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác” tôi cũng chỉ nghĩ đó là mơ ước nghìn đời của con người. Mơ ước đó khiến cuộc sống của chúng ta nhân ái, thiện lương hơn nên cần khuyến khích. Thực tế cuộc sống, vô khối nguời hiền lành, nhân đức đã chịu những “tai bay vạ gió”, còn những kẻ gian ác, xảo quyệt, thậm chí phạm vào vô khối điều cấm kỵ vẫn sống, thậm chí còn giàu sang phú quý, công danh đàng hoàng.

Với các bậc tiền nhân, tôi cúng giỗ chu đáo là do lòng thành của con cháu với cha ông, một cách tỏ tấm lòng “uống nước nhớ nguồn” chứ không phải sợ các vị “tác phúc giáng họa”. Tôi tử tế với mọi người, không ganh ghét, giành giật, sẵn sàng giúp đỡ bất cứ ai trong phạm vi khả năng của mình  chỉ vì từ nhỏ, Ông Bà, Cha Mẹ  đã dạy, và một khi nhân hòa với đồng loại, tôi thấy cuộc sống của mình thanh thản hơn chứ không phải để hy vọng gặp may mắn hơn. Tôi không làm điều ác không phải vì sợ “ác giả ác báo” mà vì được dạy nhân hậu, khoan hòa từ bé, không thể làm những điều trái với lương tâm. Thỉnh thoảng, có tham gia những  hoạt động từ thiện cũng chỉ vì lòng “thương nguời như thể thương thân” chứ hoàn toàn không nghĩ tới làm thế là để “tích phúc” cho con cháu vì tôi vốn nghĩ  chuyện “tích phúc”, chẳng qua đó là cách để nguời xưa khuyến khích những hành vi này mà thôi.

Cứ xem hàng năm, nguời ta đi lễ cầu an, chen vai thích cánh nơi chùa chiền, hàng nghìn nguời ngồi lấn ra cả  hè, cả đường mà thấy vừa buồn cho ý thức chấp hành luật pháp, vừa buồn vì cái sự thảm hại khi toàn các trai thanh gái lịch, nguời khỏe mạnh sức dài vai rộng, các ông các bà bằng cấp học vị đầy thân, .. không tự mình  quyết định cuộc đời mình lại đi trông ngóng, cầu xin ở những đẩu những đâu!

Hãy cầu an bằng cách sinh hoạt điều độ theo đúng cách mà khoa học đã khuyên bảo; cầu an bằng cách đừng rượu bia, cà phê thuốc lá quá mức cho phép; cầu an bằng cách giữ đúng luật giao thông mỗi khi ra đường; cầu an bằng cách cẩn trọng mỗi khi nói năng, hành động; cầu an bằng cách đừng ham hố danh lợi, vừa lòng với cuộc sống đạm bạc về vật chất nhưng phong phú về tinh thần; cầu an bằng cách luôn luôn để trong lòng thanh thản, không phải ăn năn về những lầm lỗi, cũng không phải bị kích động vì những ước muốn viển vông, …

Còn một khi đã cẩn thận giữ gìn nhưng có gặp “tai bay vạ gió” thì âu cũng coi đó là một trong những sự ngẫu nhiên (có may và có rủi) mà ta có muốn tránh cũng không tránh được.

Nguời xưa đã dạy: “Linh tại ngã, bất linh tại ngã”. Đôi chút tâm sự để mọi người nhất là các bạn trẻ tham khảo.

 

P/S: Bài này tôi viết từ lâu, nhưng khi có dự định Xuyên Việt lần thứ 2 chưa dám “công bố”, sợ “nói trước bước không qua”.

 

The post Cầu An appeared first on GÓC NHÌN ALAN.


Đăng ký: Viet Blogs
Nguồn tin

Đã Trở Lại “bình thường”

Nguồn tin: Góc nhìn Alan

Nghịch lý chua chát

Song Chi – Blog – 3 Oct 2015

Kể từ khi những dòng người VN đầu tiên liều mình một sống một chết để tìm đường vượt biên, thoát khỏi “thiên đường XHCN” trên những chiếc thuyền nhỏ bé giữa biển khơi mênh mông, dữ dằn cho đến nay, đích đến được nhiều người nhắm nhất là nước Mỹ. Vì vậy mà cộng đồng người Việt lớn nhất ở nước ngoài là ở Mỹ với khoảng hơn 2 triệu người.

thuyen nhan

Hơn 40 năm trôi qua, người Việt vẫn tiếp tục tìm mọi cách ra đi, bằng nhiều con đường khác nhau, đi lao động xuất khẩu rồi tìm cách trốn ở lại, đi bằng đường hôn nhân thật và giả, đi học rồi kiếm được việc và ở lại, đi theo diện work permit-đi làm, đi theo diện kinh doanh, cho con đi học gọi là “tỵ nạn giáo dục”, học xong tìm cách ở lại v.v…Dòng người, cả chất xám và tiền bạc tiếp tục thoát ra khỏi ngôi nhà VN tràn về các nước có đời sống tốt đẹp hơn, trong đó nhiều nhất, vẫn là Hoa Kỳ.

Tự dưng thắc mắc, ừ thì hồi xưa người Việt ở miền Nam chạy trốn khỏi chế độ cộng sản muốn đến Mỹ vì đó là nước đồng minh (cho dù đồng minh đã phản bội nước mình) cũng là điều dễ hiểu, bất chấp việc bị nhà cầm quyền và cả người dân miền Bắc hồi đó chưa hiểu chuyện mắng nhiếc là chạy theo đế quốc để ăn cơm thừa bơ sữa cặn. Người Việt sau này tìm đường đi Mỹ vì đó là cường quốc có nền tự do dân chủ lớn nhất thế giới, cho con đi học ở Mỹ vì Mỹ là một trong những nước có nền giáo dục tốt nhất thế giới…cũng hiểu được luôn; ngay cả việc gần đây tù nhân lương tâm bị nhà cầm quyền tống thắng sang Mỹ cũng vì chỉ có Mỹ chấp nhận không điều kiện “món hàng đặc biệt” này. Nhưng còn những quan chức của chế độ, những người miệng ra rả chửi Mỹ, bênh đảng bênh chế độ họ cũng chạy qua Mỹ là sao?

 

Từ những người không có chức vụ gì như một người quen mà tôi biết trước đây luôn tự hào về quá khứ từng là văn công đi phục vụ chiến trường, rất bênh chế độ, sẵn sàng nổi đóa lên nếu có ai “nói xấu” chế độ và một hai bảo mình chỉ sống ở VN, ra nước ngoài buồn lắm, chán lắm…Mấy năm không nghe tin, hỏi lại mới biết cũng đã lấy một ông Việt kiều và đi sang Mỹ rồi! Cho tới hạng tôm tép về mặt quyền chức nhưng là một bồi bút có cỡ, lúc nào cũng cao giọng bênh đảng bênh chế độ như một bà cựu Tổng biên tập một tờ báo mà giới blogger, nhà báo “lề trái” quá rõ mặt, cũng chạy sang Mỹ, cả gia đình. Và hàng trăm hàng ngàn quan chức Việt Cộng từ thấp đến cao, đến cả …..!

 

Nghĩ thật chua chát, oái ăm. Suốt mấy chục năm đảng cộng sản tìm cách đẩy cả dân tộc vào con đường chiến tranh, quyết đánh và đánh tới cùng bất chấp lương tri, đạo nghĩa, xương máu của bao người, cả dân tộc này, đất nước này phải trả một cái giá vô cùng đắt cho cái mục tiêu mà họ gọi là “chống Mỹ cứu nước”. Còn bây giờ, sau khi vơ vét cho bằng hết mọi tài nguyên, tài sản của nhân dân đất nước, họ thu tóm về cho mình, cho gia đình để làm một cuộc rút chạy êm ả và công khai sang Mỹ và các nước tư bản mà ngày xưa họ chửi rủa không tiếc lời. Chỉ có nhân dân, nhất là tằng lớp dân nghèo, là muôn đời khốn nạn, biết chạy đi đâu?

 

Mà ngẫm nghĩ lại thì trên đất nước này kể từ khi có đảng, có cái gì mà không trở thành nghịch lý, đảo ngược 180 độ, bất bình thường, đi ngược mọi quy luật phát triển bình thường của thế giới?

 

Song Chi

 

The post Đã Trở Lại “bình thường” appeared first on GÓC NHÌN ALAN.


Đăng ký: Viet Blogs
Nguồn tin

Thứ Hai, 5 tháng 10, 2015

Rau muống và thịt bò.

Nguồn tin: Góc nhìn Alan

Rau muống và thịt bò.

Tác Giả: Cánh Cò – Blog – 6 Oct 2015

Nếu ai từng sống ở miền Nam sau ngày 30 tháng 4 có lẽ sẽ khó quên câu chuyện truyền miệng lấy ra từ một bài báo trích lời Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói rằng: “một ký rau muống có chứa chất bổ dưỡng ngang với một ký thịt bò”.

rau-muong-xao-thit-bo

Người miền Nam tuy dễ tin, dễ tin đến độ ngây thơ, nhưng cũng tỏ ra nghi ngờ sự so sánh có vẻ “gập ghềnh” này mặc dù dân Nam vốn quen với cách leo trèo trên những chiếc cầu khỉ ở quê mình. Người Sài gòn thì khác, rau muống và thịt bò được mang ra mổ xẻ trên các bàn tiệc thanh đạm khi nhà có khách hay giổ quẩy, tang tế. Cho tới năm 1978, miếng thịt bò trở quý hiếm cùng cực, ngoài chợ họa hoằn lắm là vài ba lạng thịt của những chú bò kiệt sức từ Hóc Môn hay Bình Chánh chở về. Nhiều chợ nội thành rộ lên việc mua bán bắp hạt, khoai mì hay rau lang, rau muống…những thứ có thể nấu độn với cơm. Bà nội trợ lận lưng vài ngàn bạc, ngẩn ngơ nhìn bó rau muống đã được gia đình ăn đến ngấy và có thể nói chỉ nhìn thôi cũng đã cạn dòng nước giải.

 

Rau muống và thịt bò lúc ấy được dân miền Nam rạch ròi và họ rất tự tin rằng nếu ai nói rau muống có thể thay thế thịt bò thì ngay lập tức sẽ nhận ánh mắt không khinh bỉ thì cũng lạnh lùng lảng tránh.

 

Rau muống và thịt bò tưởng đã an giấc nghìn thu bỗng dưng sống dậy, hiện hình ở một dạng khác, tinh vi hơn, thuyết phục hơn…có lẽ do người dân đã biết phân biệt giữa thực tế và câu chữ luyến láy sệt mùi tuyên giáo nên lần này rau muống ngụy trang kỹ hơn, thịt bò được sơn phết trông tươi tắn dưỡng chất và giống hơn ngày xưa, cái thời miếng thịt bò chỉ nằm trên trang giấy của báo Sài gòn Giải phóng.

 

Thịt bò lần này là chủ nghĩa xã hội tại Cuba và rau muống là những công ích mà nhân dân trên ốc đảo này đang thụ hưởng.

 

Người tận dụng sự hiểu biết về chủ nghĩa xã hội của mình là một cán bộ dưới cái tên Trí Lê, đã đặt tựa bài báo rất kêu, có thể nói đầy thách thức nữa là khác: Bao giờ Việt Nam mới được như Cuba? (1)

 

Bài viết mở đầu bằng tất cả sự trân trọng dành cho hai đất nước, một là Bắc Triều Tiên và hai là Cuba. Bắc Triểu Tiên thì tác giả dẫn lời ông Lê Quảng Ba khẳng định đây là một nơi đáng sống vì họ lo cho trẻ em rất đảm bảo và đường xá, hạ tầng cơ sở rất được coi trọng.

 

Ông Lê Quảng Ba từng được báo chí cả hai lề ném đá và không cần thiết phải nhắc lại ở đây. Chỉ xin một câu ngăn ngắn nhắn lại với ông Trí Lê: Bình Nhưỡng vẫn đang kêu cứu với LHQ xin gạo cứu đói trong đợt mất mùa mới nhất và LHQ vừa công bố bản phúc trình của trẻ suy dinh dưỡng tại Bắc Triểu Tiên đấy ông ạ.

 

Còn về Cuba, cái tựa khá khiêu khích ấy làm nhiều người ngẩn ngơ: thì ra bao lâu nay mình bị bịt mắt, bị phân tán tư tưởng và nhất là bị bọn tư bản nó đầu độc, làm méo mó thông tin về một đất nước đáng sống và đáng ngưỡng mộ.

 

Ôi, vậy mà năm ngoái ông Thủ tướng lại bày đặt tặng không cho Cuba 5.000 tấn gạo không biết làm chi nữa? và lô gạo đầu tiên đã giao tại cảng Mariel (Cuba) vào ngày 26/10/2014, và số gạo này được giao đủ trong tháng 11/2014.

 

Cái tên cảng Mariel dẫn tới một câu chuyện khác mà người dân Cuba có lẽ vài thế kỷ nữa vẫn không thể quên được đó là “sự kiện Mariel” xảy ra vào ngày 15 tháng 6 năm 1980 khi Fidel Castro bị làn sóng người dân Cuba đòi vượt biên tị nạn sang các nước khác đã công khai ra lệnh không được đàn áp họ và cho phép người muốn ra đi chỉ được khởi hành tại cảng Mariel mà thôi. Kết quả là đã có 125 ngàn người tới bờ biển Miami của Mỹ để rồi sau đó chính phủ của Tổng thống Clinton phải cho phép rút thăm mỗi năm để nhận vào nước Mỹ 20 ngàn người Cuba ra đi hợp pháp, thay vì ra đi ào ạt như trước.

 

Sự quỷ quyệt của Fidel Castro cho một kết quả đáng suy gẫm: Mỗi năm người Cuba lưu vong gửi về cho gia đình mình 3 tỷ đô la, số tiền này tuy đã bị giới hạn của chính phủ Mỹ chỉ cho phép gửi về 2.500 đô la một năm, cũng đủ để nuôi sống chính phủ và gần 12 triệu người dân Cuba trong hơn 30 năm qua.

 

Và nhờ nó mà Trí Lê mới thấy được điều mà ông ta cho là chừng nào Việt Nam mới bằng Cuba.

 

Trí Lê viết: “Những kẻ trọc phú ở Việt Nam nhìn người dân Cuba bằng con mắt của kẻ lắm tiền. Nhưng họ không biết rằng, ở Cuba, có những điều mà ít nhất 2/3 dân số Việt Nam đang nằm mơ cũng không được như vậy”.

 

Để chứng minh, tác giả liệt kê một loạt những điều đang xảy ra tại đất nước suốt năm mùa hè này. Thứ nhất, Cuba là nơi bao cấp cho trẻ em học từ bậc tiểu học cho tới đại học mà không tốn học phí gì. Nhà nước lo cho các em ăn trưa tại trường và đặc biệt hơn em nào cũng được uống sữa không tốn tiền cho tới lớn.

 

Tác giả đã che đậy những thông số mà đáng lẽ phải liệt kê ra luôn cho người đọc so sánh. Bậc tiểu học của Cuba và ngay cả khi lên tới thạc sĩ được nhà nước bao cấp, đồng ý. Nhưng học gì và học như thế nào thì cần phải hỏi các định chế độc lập khác, những nơi mà ông Trí Lê không thể cho là bóp méo sự thật hay cố tình tuyên truyền chống phá.

 

Hãy xem bản phúc trình của World Bank về giáo dục tại Cuba.(2)

 

Điều đáng lưu ý trong bản phúc trình này là tất cả các sinh viên cao học, tức là những người được miễn học phí sẽ là cán bộ sau khi ra trường và họ được nhà trường huấn luyện về các môn học để thực hiện mục tiêu mà chính phủ đề ra.

 

Đây là khác biệt lớn nhất và cũng là mục đích mà chính phủ Cuba bao cấp cho giáo dục. Trong môi trường học vấn như thế liệu công dân tương lai của Cuba sẽ giúp ích được gì cho bản thân, gia đình và xã hội hay cuối cùng cũng chỉ là những con cừu trong cái chuồng trại chủ nghĩa xã hội mà tác giả Trí Lê hết lòng hâm mộ?

 

Ông viết: “giáo dục của Cuba được xếp vào hàng tiên tiến nhất thế giới, ngang với Đan Mạch. Y tế Cuba thì đứng vào hàng đầu và họ đã chế ra được vắc-xin phòng chống bệnh ung thư và nhiều loại thuốc đặc biệt khác”.

 

Có lẽ tác giả đã quá lời khi nâng rau muống ngang tầm với thịt bò. Khi so sánh hai nền giáo dục thì chính tác giả đã lậm vào việc phân tích trong rau muống có chất này, chất kia cũng y như thịt bò vậy, nhưng tác giả quên mất rằng, thịt là thịt mà rau là rau, ngay một đứa trẻ lên ba cũng biết thế nào là vị ngon của thịt mà rau muống không thể có. Cũng như mục tiêu của giáo dục Đan Mạch không hề đào tạo ra những con người phục vụ cho guồng máy độc đảng, mà họ đào tạo ra những công dân tự do, những tri thức có thể làm chủ thế giới vì vậy sự so sánh không thể gọi là khập khiểng mà hình dung từ “không lương thiện” sẽ chính xác hơn.

 

Tác giả gọi việc bao cấp y tế và giáo dục là thiên đường xã hội chủ nghĩa là điều mà Việt Nam thèm khát cũng không có được.

 

Vâng đúng là xã hội chũ nghĩa mới có những thành tựu rực rỡ như vậy, nhưng bù lại, người dân Cuba sống trong cái lồng xã hội chủ nghĩa ấy đang ra sao và họ làm gì khi được bao cấp?

 

Tưởng người dân Việt cũng nên hình dung ra cái mà tác giả Trí Lê gọi là thiên đường:

 

Theo thông tin từ nguồn của chính phủ Cuba thì người dân nước này đang được nhà nước cung cấp chế độ tem phiếu. Chi tiết mỗi tháng được cung cấp như sau: (3)

 

Gạo 2 ký 7, đậu các loại: 570 gr, đường cát trắng 1 ký 4, đường cát vàng 1 ký 4, Sữa chỉ cấp cho trẻ em dưới 7 tuổi 1 lit mổi ngày. Trứng chỉ cấp từ tháng 9 tới tháng 12: mỗi người 12 trứng. Khoai tây, chuối 6 ký 8.

 

Tất cả được bán với giá quốc doanh tức là rất rẻ.

 

Những ai từng ở miền Bắc sẽ hiểu thế nào là bao cấp, là tem phiếu, tưởng không cần nhắc nữa thì người dân đã đủ lạnh xương sống rồi và họ không cần ăn miếng thịt bò làm từ rau muống.

 

Còn rất nhiều điều khác mà tác giả nhìn thấy bằng con mắt của một cán bộ công an hơn là một du khách khi tác giả tự nhận rằng:

 

“Người viết bài này cũng đã được sang Cuba tới 4 lần từ năm 2006 đến nay; cũng đã được làm việc với lãnh đạo Bộ Kinh tế Cuba; Bộ Nội vụ Cuba và lãnh đạo công an một số tỉnh, thành. Rồi cũng đã gặp gỡ không ít cán bộ, công nhân Cuba, trong đó có không ít người đã từng sang giúp ta mở đường Hòa Lạc – Xuân Mai, xây dựng khách sạn Thắng Lợi, mở đường Hồ Chí Minh…”

 

Có lẽ do làm việc nhiều với cơ quan bạn nên tác giả không có cơ hội tìm hiểu sâu hơn để biết rằng điều mà mình khẳng định (do bạn mớm lời) là hoàn toàn lệch lạc so với sự thật khi viết rằng: “bình quân thu nhập theo đầu người của Cuba còn gấp 3 lần người Việt Nam (khoảng 3.000USD/người/năm)”.

 

Hơn nửa ông còn viết: “Đúng là người dân Cuba còn thiếu thốn bởi cái lệnh cấm vận cực kỳ dã man của Mỹ. Nhưng trong phạm vi có thể, Chính phủ Cuba đã lo cho trẻ em và người già hết mức. Đấy chính là bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa.”

 

Con số 3 ngàn đô la ấy bao nhiêu là từ tiền của dân Cuba lưu vong gửi về và phải chăng tính luôn vào những chi phí bao cấp mà nhà nước bỏ ra?

 

Hãy tìm thêm dữ liệu về thông tin mà Trí Lê đưa ra, theo World Bank thì trong danh sách 196 nước nghèo nhất thì Cuba xếp hạng 73, thu nhập trung bình của người dân Cuba từ 12 tới 25 đô la một tháng. Tất cả mọi chi phí sinh hoạt chính như nhà ở, điện, nước, chăm sóc y tế và giáo dục nhà nước bao cấp và vì vậy 25 đô la một tháng họ vẫn đủ trang trải.

 

Nhưng trang trải trong sự ước mơ, từ cây kem đánh răng tới cục xà phòng giặt quần áo đều xa xỉ và mắc mỏ ông ạ. Đơn giản vì nhà nước không cung cấp cho họ.

 

Vâng, để được bó rau muống cho dù phải xếp hàng, phải làm đơn, phải đút lót cho nhân viên mậu dịch thì vẫn hơn là đói cả nhà. Thế nhưng khi nâng những thứ mà nhà nước bao cấp trở thành miếng thịt bò đáng mơ ước thì liệu tác giả có đi quá xa không?

 

Câu hỏi quan trọng nhất mà ai cũng muốn biết: Bao cấp phải chăng để vĩnh viễn cai trị vì khi người dân không còn biết nơi nào khác trên trái đất có đời sống tốt đẹp hơn thì họ nào cần tới miếng thịt bò, và vì vậy cứ âm thầm nhai bó rau muống mà anh em nhà Fidel đã bố thí cho người dân của mình trong gần thế kỷ qua?

 

Và rồi do trào lưu thế giới không còn như xưa, người dân có quyền sống trong môi trường tự lập và hưởng thụ quyền làm người của mình, đặc biệt từ sức ép của cộng đồng người Cuba tại Miami mà mới đây Cuba đã đắng lòng bắt tay với Mỹ nhằm chấm dứt chế độ bao cấp mà ông gọi là thiên đường xã hội chủ nghĩa này?

 

Cánh Cò
(1)http://ift.tt/1Z62co6

(2)http://ift.tt/1Z62co8

(3)http://ift.tt/1QVMF4r

 

The post Rau muống và thịt bò. appeared first on GÓC NHÌN ALAN.


Đăng ký: Viet Blogs
Nguồn tin

Chút ký ức cho một ngày ngợi ca phụ nữ

Nguồn tin: Góc nhìn Alan

Chút ký ức cho một ngày ngợi ca phụ nữ

Tác giả: Tuấn Khanh – Blog – 5 Oct 2015

Trong tất cả những câu chuyện về những người phụ nữ mà tôi nhớ được, có một câu chuyện luôn ám ảnh tôi trong nhiều năm tháng. Đó là một người phụ nữ vô danh, nghèo khó như bao nhiêu người nghèo khó trên đất nước này. Tôi chọn ngày 20-10 để ghi lại chút ký ức về bà, vì nếu lỡ quên đi, chắc là tôi sẽ hối tiếc nhiều.

banh mi saigon

Bà là một người bán bánh mì, đứng khép nép ở lề đi bộ gần cửa trường Pétrus Ký cũ, nơi tôi vẫn đạp xe đi học ngang qua mỗi sáng. Thời sinh viên Đại học, tiền chưa bao giờ đủ cho 2 ổ bánh mì một ngày, xe bán bánh mì của bà là nơi ưa thích của tôi và nhiều sinh viên khác vì bà vẫn luôn có một thái độ ưu ái thầm lặng với bọn mài đũng quần trên giảng đường.

 

Thêm một chút nước thịt, một vài miếng dưa leo; Thậm chí liếc thấy ai đó gầy gò, bà vẫn cho thêm được 1,2 miếng thịt mong mỏng. Một thông điệp quý giá và thầm lặng, nhưng mãnh liệt hơn cả những hứa hẹn về học bổng hay tài trợ tương lai từ Bộ Giáo Dục, khiến giới sinh viên rỉ tai nhau và hay ghé vào mua bánh mì trong một niềm tin trong sáng.

 

Nơi đó quen thuộc đến mức nhiều khi buổi chiều, đi ngang, tôi vẫn nhìn xem có bà bán nơi đó không. Nhiều năm như vậy, bức tranh ngày thường đó, tôi đã mang theo suốt cuộc đời.

 

Rồi một ngày, khi đạp xe đến mua bánh mì, bà chỉ còn bán bằng chiếc thúng đặt trên yên sau của một chiếc xe đạp thồ. “Xe bán bánh đâu rồi bà?”, tôi hỏi.

 

“À, mấy ông dẹp lề đường bắt rồi”, bà nói, tay vẫn gói bánh. Đứa con gái phụ bà kể rằng mấy ông ở Phường đến tịch thu, và nói nếu xin đóng tiền phạt, thì có thể lãnh xe về. “Dì sao mà đủ tiền đóng con”, bà nói.

 

Xe thì không còn, nhưng ổ bánh mì của tôi vẫn y nguyên cái tình cảm của một người nghèo vẫn dành cho giới sinh viên. Đó là lần đầu tiên trong đời, tôi đạp xe đi, ăn không hết ổ bánh mì và nghĩ rất nhiều về sự bình an đã mất trong trái tim mình.

 

Không chỉ là một lần. Chỉ mấy tuần sau, tôi lại thấy bà chỉ còn bán bánh mì trong một cái thúng cặp nách. “Xe cũng bị lấy rồi, mấy ổng nói má em cứng đầu quá, phạt cho tởn”, đứa con gái của bà nói. Trời cho thế gian này có thứ bậc quan và dân. Quan vẫn làm chuyện của quan, dân vẫn làm chuyện dân. Và tôi cũng cầm ổ bánh mì đầy đặn như mọi khi, chạy đi, ước mong trẻ con đến phát khóc rằng phải chi mình trúng số để cho tiền bà đóng phạt.

 

Bánh mì của người nghèo nuôi tôi lớn. Bài học ở trường dạy tôi biết. Cuộc đời cho tôi chứng kiến để tôi hiểu, nhưng tôi vẫn suy nghĩ trẻ con.

 

Tôi vẫn trẻ con đến mức thời gian ngắn sau đó, tôi chạy vòng tới vòng lui để tìm người đàn bà bán bánh mì quen thuộc, thậm chỉ trễ cả giờ học đầu. Bà không còn ở đó nữa cho đến tận hôm nay. Có lẽ bà đã mưu sinh ở một nơi nào đó khác, như người ta vẫn đùa rằng năng lượng đời không tự nhiên mất đi, mà chỉ bị xô đuổi từ nơi này sang nơi khác mà thôi.

 

Nhiều năm sau, tôi vẫn còn bị ám ảnh về thứ ký ức nhỏ nhặt này. Cho đến một hôm, thời hiện tại, tôi chứng kiến chiếc xe Jeep dân phòng dừng ở một nơi quen thuộc. Những người đàn ông cũng có vợ, có con gái, có mẹ… đang tần tảo, nhưng hùng hổ xô, giật, đạp những thứ buôn bán nhỏ nhặt của nhiều người phụ nữ. trên tay họ là gậy, là dùi cui. Trên miệng họ là khẩu lệnh và nụ cười gằn. Tiếng la hét, tức giận, và có cả tiếng khóc thét của những người đàn bà giữa phố. Nhưng điều đó chẳng là gì trước những bộ đồng phục lạnh lùng sừng sững, tựa như vô tri.

 

Cũng là những người bán hàng rong, nhưng rất nhiều người, ở rất nhiều nơi sẽ được để yên khi đã nộp tiền. Thậm chí những bộ đồng phục đó chỉ quần thảo với danh sách những ai chưa đóng tiền chỗ, mà những người bán hàng cười mỉa : “ứng trước tiền phạt”.

 

Tôi nhớ đến người đàn bà bán bánh mì mà tôi không biết tên. Tôi hình dung những gì bà đã mất nhưng vẫn giữ lại hơi ấm khi trao từng chiếc bánh mì cho bọn sinh viên khố rách áo ôm chúng tôi.

 

Tôi tin vào mọi lý thuyết của sự phát triển, nhưng tôi cũng tin rằng người ta sẽ buộc phải ‘cứng đầu’ để có thể sinh tồn. Nhất là khi sống trong một quốc gia đang quá khốn khó để sinh tồn.

 

Ngày 20-10 hàng năm, tôi thường nhìn thấy những người đàn bà to đẹp, trang phục đắt tiền trên truyền hình. Thậm chí họ được gắn huân chương mà tôi không rõ vì lý do gì. Những giờ phút đó, tôi vẫn hay nhớ đến người đàn bà bán bánh mì mà tôi biết, cũng như hàng triệu người phụ nữ vô danh khác đang trở thành kẻ phạm luật trong một cái khung công lý quá chật chội với thực tế của một con người trên đất nước này. Tôi tôn trọng luật pháp vì tin vào tương lai, nhưng tôi vẫn luôn nhìn trừng vào nó để có thể nhận ra, ghi nhớ rằng điều gì phải cần phải thay đổi một khi đất nước này thật sự có những người biết lắng nghe và, thật sự yêu thương dân tộc này.

 

Thật đơn giản, vì tôi đã mang ơn những ổ bánh mì nghèo hèn vô danh, nên tôi không bao giờ có thể quên những điều đó.

 

Tôi là người Việt.

 

Tuấn Khanh

 

(Blog Tuấn Khanh)

 

The post Chút ký ức cho một ngày ngợi ca phụ nữ appeared first on GÓC NHÌN ALAN.


Đăng ký: Viet Blogs
Nguồn tin

Thứ Sáu, 2 tháng 10, 2015

Cha nào con nấy

Nguồn tin: Góc nhìn Alan

Lênin làm gián điệp cho Đức được đưa vào sách giáo khoa ở Nga

Theo Đại Kỷ Nguyên VN - Tinh Vệ biên dịch – 29 Sep 2015

lenin

Gần đây, sách giáo khoa lịch sử thuộc cấp trung học phổ thông ở Nga đã phát hành phiên bản mới với một số sửa đổi quan trọng, trong đó nổi bật là việc cho rằng Liên Xô thuộc thời đại Lênin là một “địa ngục” và vạch trần bộ mặt thật của Lênin trong Thế chiến thứ nhất là nội gián của Đức.

 

Tài liệu chỉ ra: Trong Thế chiến thứ nhất (1914 – 1918), nước Đức đã dùng thủ đoạn chiến tranh phi quân sự bằng cách mua chuộc phản đồ, gián điệp từ nước Nga, đối tượng mua chuộc chính là Lênin, kẻ ngông cuồng muốn tận dụng cơ hội chính phủ Nga trong lúc khó khăn để lật đổ một cách hợp pháp và lên nắm quyền.

 

Từ 1915, nước Đức luôn đứng sau yểm trợ cho Lênin.

 

Năm 1917, Lênin lưu vong ở nước ngoài đã ngồi “chuyến tàu kín” do nước Đức bố trí, có binh lính hộ tống đi tới Peterborough. Ngày 8/4, Bộ Tổng tham mưu Đức đã báo cáo với Hoàng đế Đức khi đó là Wilhelm II rằng: “Lênin đã trở về Nga thuận lợi. Ông ta quả thực đã làm đúng ý của chúng ta.”[ads1]

 

Theo thống kê, nước Đức đã chi 50 triệu mác (khoảng hơn 9 tấn vàng) hỗ trợ Lênin làm “cách mạng”. Sách lược của người Đức đã thành công, cuối cùng nhờ công ơn của nước Đức mà Lênin đã làm “cách mạng” thành công, giành được chính quyền. Còn nước Đức cũng được trả ơn gấp hàng ngàn lần: “Hai nước Nga – Đức cuối cùng đã đình chiến làm hòa, Lênin không quan tâm đến thực trạng kiên quyết phản đối trong nội bộ Đảng (gồm cả nội bộ Bolshevik), đã ký kết Hiệp ước Brest với nước Đức, cắt 1 triệu km2 để bồi thường đền ơn 6 tỷ mác mà người Đức chi viện giúp đỡ.”

 

Sự thực lịch sử này nhân dân thế giới, gồm cả người Nga, hầu như đều biết, nhưng việc chính quyền Nga đưa vào sách giáo khoa lịch sử hiện nay là một tiến bộ lớn của lịch sử nước Nga.

 

 

Biết Mình Biết Người

Những tuyên bố lịch sử của Vladimir Lenin
Một người với súng có thể điều khiển 100 người không vũ khí – One man with a gun can control 100 without one

Cách tiêu diệt bọn tư sản trưởng giả là nhiền nát chúng giữa cối chày của thuế phí và lạm phát – The way to crush the bourgeoisie is to grind them between the millstones of taxation and inflation
Lời nói dối lập đi lập lại mãi sẽ thành sự thực - A lie told often enough becomes the truth
Không có đạo lý trong chính trị, chỉ có sự tiện lợi. Một tên gian giảo có thể hữu dụng cho chúng ta vì hắn thuộc loại gian tà – There are no morals in politics; there is only expedience. A soundrel may be of use to us just because he is a scoundrel
Chương trình (hành động) của chúng ta cần phải bao gồm việc tuyên giáo cho chủ nghĩa vô thần – Our program necessarily includes the propaganda of atheism -

Chúng ta không có thì giờ chơi trò “đối lập” tại các hội thảo. Chúng ta sẽ giữ mọi đối lập chính trị của chúng ta …dù lộ diện hay dấu tung tích như không đảng bộ… TRONG TÙ – We do not have time to play at “oppositions” at “conferences.” We will keep our political opponents… whether open or disguised as “nonparty,” in prison.
Bọn tư bản sẽ bán cho chúng ta dây thòng lọng mà chúng ta sẽ dùng để treo cổ bọn chung – The Capitalists will sell us the rope with which we will hang them.

Khi chính nghĩa của dân tộc được giao cho bọn giáo sư, tất cả sẽ mất biến – Whenever the cause of the people is entrusted to professors, it is lost.”

Bạn dùng lưỡi lê để thử sức: nếu đối tượng mềm yếu, chúng ta đẩy mạnh tới. Nếu chúng là sắt thép, bạn rút lui – You probe with bayonets: if you find mush, you push. If you find steel, you withdraw”

Đưa chúng ta một đứa trẻ trong 8 năm, hắn sẽ thành một chiến sĩ Bolshevik suốt đời – Give us a child for 8 years and he will be a Bolshevik forever.

The post Cha nào con nấy appeared first on GÓC NHÌN ALAN.


Đăng ký: Viet Blogs
Nguồn tin

Đại Tang

Nguồn tin: Góc nhìn Alan

Đại Tang

Tác giả: Võ Tòng Đánh Mèo – Theo FB Đinh Long – 2 Oct 2015

tang le

Trước cổng cơ quan, một bác nông dân thập thò, nghiêng ngó. Thấy vậy, anh bảo vệ quát to:

 

- Ông kia! Tới có chuyện gì?

 

- Tôi muốn gặp giám đốc xin cái giấy xác nhận!

 

- Hôm nay giám đốc nghỉ lo đám tang. Bố giám đốc vừa mất!

 

- Vậy cho tôi gặp phó giám đốc được không?

 

- Cũng không được! Vì bố phó giám đốc cũng vừa mất!

 

Vẻ thất vọng lộ rõ trên gương mặt bác nông dân, nhưng bác vẫn cố hỏi thêm:

 

- Vậy cho tôi gặp trưởng phòng được không?

 

- Không được! Bố chồng của trưởng phòng vừa mất.

 

- Vậy cho tôi gặp phó phòng!

 

- Không được! Hôm nay phó phòng nghỉ lo đám tang. Ông nội phó phòng vừa mất!

 

- ĐKM! Anh đùa tôi đấy à? Chết đéo gì mà lắm thế?

 

- ĐKM! Ông chửi ai đấy hả? Đã không biết thì im mồm đi! Chết mỗi một người chứ lấy đéo đâu ra mà lắm! Bố của giám đốc thì cũng là bố của phó giám đốc, thì cũng là bố chồng của trưởng phòng và là ông nội của phó phòng. Vì giám đốc là anh ruột của phó giám đốc, là chồng của trưởng phòng và là bố đẻ của phó phòng. Ông dù chỉ chửi một người nhưng lại là chửi cả cái cơ quan này đó! Ông biết chưa hả? Thôi, về đi cho tôi đóng cổng cơ quan!

 

- Vẫn sớm mà! Sao đóng vội thế?

 

- Tôi phải về lo đám tang. Bác tôi vừa mất!

 

 

The post Đại Tang appeared first on GÓC NHÌN ALAN.


Đăng ký: Viet Blogs
Nguồn tin

Nguồn Tin Mới