Tin tức Việt

Thứ Năm, 15 tháng 10, 2015

Bí quyết bổ sung dinh dưỡng để mẹ vui – con khỏe.

Từ lâu, sữa đã được xem là nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao đối với sức khỏe con người. Đặc biệt khi mang thai, nhu cầu dinh dưỡng của mẹ sẽ tăng cao.

Cụ thể mỗi ngày mẹ cần 600mcg folate, 60mg sắt, 1.000mg canxi, 30g chất xơ, 15mg kẽm, 200mcg i-ốt, tăng thêm khoảng 15g đạm so với khi chưa mang thai và cần đảm bảo đủ 2.500Kcal năng lượng. Do có một số vi chất dinh dưỡng rất khó được cung cấp đầy đủ thông qua chế độ ăn uống thông thường.

Sữa bầu nên được các bà mẹ tương lai bổ sung ngay từ khi biết mình đã mang thai, thậm chí ngay cả trước khi có ý định mang thai 3 tháng.

Chia nhỏ thành nhiều lần để uống

“Nếu bị “nghén”, mẹ bầu đừng nên cố ép mình uống một lượng sữa lớn, hãy chia nhỏ để uống nhiều lần trong ngày. Việc chọn thời điểm uống thích hợp cũng giúp mẹ bầu hứng thú với việc uống sữa hơn” .Nhiều nghiên cứu cho thấy các cơn nghén thường đến nhiều hơn vào buổi sáng sớm, việc uống sữa bầu vào thời gian này càng dễ khiến mẹ nghén sữa bầu hơn. Mẹ có thể bắt đầu uống với lượng vừa phải (khoảng 110ml) và chia thành nhiều lần uống mỗi ngày và tăng dần theo thời gian.

Chọn một hương vị sữa yêu thích

Khi mang thai, người mẹ thường rất nhạy cảm với các loại thực phẩm và mùi vị. Việc chọn cho mình một hương vị yêu thích cũng có thể giúp mẹ dễ dàng thích nghi với việc uống sữa bầu hơn. Đó là bí quyết được chị Phương Thanh (30 tuổi) – một thành viên của diễn đàn webtretho áp dụng. “Khoảng 3 tháng đầu mang thai, mình nghén nặng nên hầu như không uống sữa. Nhưng cũng may sau đó được bạn bè giới thiệu, mình đã thử Anmum và thấy cũng hợp. Ngoài ra mình cũng nghĩ ra cách dùng sữa kèm với bánh quy, bánh mì, hạt ngũ cốc… để giúp giảm đi cảm giác “nghén” mùi. Việc uống sữa nhờ đó cũng trở nên dễ dàng hơn nhiều” - chị chia sẻ.

Thứ Hai, 12 tháng 10, 2015

Là người Việt Nam!

Nguồn tin: Góc nhìn Alan

Là người Việt Nam!

Tác Giả: Huy Phương – Người Việt – 11 Oct 2015

vn vô địch

Cách đây khoảng 10 năm, sau một chuyến đi xa, trên đường trở lại California, vợ chồng chúng tôi và hai người bạn đang ngồi chờ đổi máy bay tại phi trường Atlanta, thì bất chợt một ông Việt Nam trung niên, áo vest, thắt cà vạt, tiến về phía ghế ngồi của chúng tôi. Một cách mừng rỡ và vội vã, không kể người trước mặt mình là đàn ông hay đàn bà, quen hay lạ, y thọc tay về phía chúng tôi: – “Các bác là người Việt Nam!” Không đợi câu trả lời, quơ được bàn tay của chúng tôi đưa ra một cách phản xạ, y lắc đấy lắc để.

 

Phải nói là chúng tôi phản ứng quá chậm hay gần như không có phản ứng gì.

 

Cho đến lúc người đàn ông lạ mặt này thấy không mấy phấn khởi với cuộc làm quen này, quay lưng đi, chúng tôi vẫn ngồi yên tại chỗ, lặng lẽ và ngao ngán không nói một câu gì. Phải, chúng tôi là người Việt Nam, nhưng cuộc gặp gỡ với một người Việt Nam kỳ này không đem lại điều gì hứng thú cho chúng tôi, qua ngôn ngữ và cách xử thế, chúng tôi thấy có một khoảng cách khá lớn, và cũng là người Việt Nam, nhưng tôi cảm thấy y không giống tôi, ngoài một thứ ngôn ngữ đã khá dị ứng, con người này như đến từ một xứ sở nào khác.

 

Như thế, ít ra tôi cũng đã hiểu vì sao một người Tàu ở Hồng Kông trước năm 1999 chỉ nhận họ là người Hồng Kông, hay sau 1949, những người Tàu ở Đài Loan, cho rằng mình là người Đài Loan (“Trung Hoa Dân Quốc” hay “Trung Hoa Đài Bắc”) để khỏi nhầm với Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (Trung Hoa lục địa hay Cộng Sản Trung Hoa). Hẳn không một người Nam Hàn nào thích hiểu lầm họ là người Bắc Hàn (được Việt Nam gọi là Triều Tiên) và trước đây giữa người Đông và người Tây Đức mặc dầu nguồn gốc của họ là người Đức. Người ta không thể phủ nhận nguồn gốc của mình nhưng có thể phủ nhận chính thể đương thời và lựa chọn quốc tịch cho mình.

 

Chỉ có hai tiếng Bắc Kỳ thôi, và chỉ trong vòng 30 năm, người Việt Nam cũng đã chọn chỗ đứng rõ ràng khi phân biệt ai là Bắc Kỳ cũ, Bắc Kỳ mới, ai là Bắc Kỳ “chín nút” (54), ai là Bắc Kỳ 75! Nếu trong câu chuyện nói, còn có chút gì kỳ thị, thì chúng ta cũng không nên trách, đây không phải là chuyện đoàn kết dân tộc, mà là chuyện văn hóa và chính kiến, nó phát xuất từ những khổ đau và bất hạnh mà con người ta phải gánh chịu, qua những thăng trầm của lịch sử.

 

Tôi là người Việt Nam, và những ngày còn nhỏ, tôi vẫn thường hãnh diện mình là người Việt Nam, với “bốn nghìn năm văn hiến,” “con Rồng cháu Tiên,” lớn lên trong thời loạn lạc, người chẳng ra người, ta lại được hãnh diện thêm vì quê hương mình “rừng vàng biển bạc,” thủ đô “là đỉnh cao trí tuệ của loài người,” “đánh thắng ba đế quốc sừng sỏ!” “mỗi buổi sáng thức dậy ước mơ mình trở thành một người Việt Nam,” “Việt Nam dân chủ gấp vạn lần các nước Tây phương,” “vị thế Việt Nam tiếp tục được nâng cao trên trường quốc tế!” thì không còn gì để có thể hãnh diện hơn được nữa!

 

Gom tất cả tinh hoa của người Việt trên thế giới để làm những tác phẩm vĩ đại để ca tụng con người Việt Nam là điều không khó, vì những khuôn mặt thành đạt vẻ vang này ở nước ngoài, sau ngày phải bỏ nước ra đi, chúng ta không chỉ có hàng chục nhân vật đủ làm một tác phẩm mà con số này có thể lên đến hàng trăm, hàng nghìn người. Nhưng nếu tập họp họ lại, xếp hàng ngay ngắn như trong một cuộc “diễu hành,” có một mỹ nhân mặc quốc phục dẫn đầu cầm một tấm bảng lớn mang dòng chữ “Tôi là người Việt Nam” thì điều này quả còn quá nhiều gượng ép.

 

Đồng ý nguồn gốc họ đều là những người Việt Nam, có người bỏ nước ra đi từ ngày chủ thuyết Cộng Sản đến Việt Nam, nhưng cũng có người sinh ra ở nước ngoài, mỗi người có một cuộc đời, hoàn cảnh, tình cảm và chính kiến khác nhau. Nếu có ai hỏi họ: – “Ông bà là người Việt Nam?” thì câu trả lời sẽ là: – “Phải, tôi là người Việt Nam! Nhưng đó là câu chuyện cách đây 40 năm. Đó là một câu chuyện dài!”

 

Trong chúng ta, ai cũng có một câu chuyện dài phải được kể lại, hay bây giờ mới được kể lại!

 

Những nhà tuyên truyền thường nhắc đến tình tự dân tộc, biểu tượng từ một tiếng đàn bầu, một tiếng hò trên sóng nước để gợi cho con người nhớ đến quê hương. Người ta lập lại mãi câu nói “quê hương chỉ một” hay anh em đi xa là “khúc ruột ngàn dặm” và không ngừng kêu gọi một sự trở về tha thiết, – “Nếu đi hết biển thì đến đâu hở mẹ!”- “Đi hết biển thì sẽ trở về làng cũ!” Vì sao con chim phải bay trở lại cái lồng đã giam hãm nó, có khi là cái thòng lọng hay cái cũi nhốt của một con vật. Đó là con người của tự do, có ý thức, không phải chiếc xe lửa chạy lui tới trên đường ray.

 

Có người đem chuyện người Việt lưu lạc của Kiến Bình Vương Lý Long Tường (1136-1175) là con thứ sáu của vua Lý Anh Tông, đã cùng họ hàng vượt biển Bắc vào đầu thế kỷ thứ 13 vì bị phe cánh Trần Thủ Độ hãm hại, sau đó trôi giạt đến Cao Ly, để nói chuyện người Việt trở về tìm lại nguồn cội. Xin quý vị yên tâm đi, không cần phải nói chuyện đạo lý, nhân nghĩa, Cộng Sản thôn tính miền Nam mới nửa thế kỷ, dòng dõi Lý Long Tường bỏ nguồn cội đã bảy tám thế kỷ này. Thời gian hãy còn quá sớm để cho những người Việt lưu lạc tha phương trở về.

 

Hình ảnh tìm về cội nguồn hẳn là đã được ca ngợi rất nhiều.

 

Truyền thống dân gian cho rằng loài cá hồi trở về đúng nơi chúng được sinh ra để đẻ trứng, nhưng cuộc nghiên cứu đã cho thấy hành động quay lại nơi ra đời này đã được thể hiện phụ thuộc vào ký ức khứu giác và thói quen, hẳn không hề có ý nghĩa về cội nguồn. Và trong một câu chuyện khác, hàng năm vào mùa Xuân, những đàn én từ phương Nam đã bay trở về nhà nguyện San Juan Capistrano (California) và về phía Nam Mỹ là để trốn mùa Đông giá rét. Đến mùa nắng ấm, chúng lại bỏ gác chuông nhà thờ để ra đi, không hề có có ý niệm trở về hay qui cố hương.

 

Nếu câu hỏi đặt cho một người và câu trả lời dành cho một người, nó mang một ý nghĩa khác, nhưng khi chúng ta tập trung họ lại, cố tình hướng dẫn họ thành một đám đông và mở đường, sắp xếp cho họ có chung một câu trả lời theo dụng ý của những nhà đạo diễn, tôi cho đây là điều thiếu đạo lý.

 

Vả lại, điều dễ thấy rõ, hàng chục người vừa tuyên bố mình là người Việt Nam ở đây đều nằm trong 3 triệu người, bỏ nước ra đi, bằng lý do này hay lý do khác; họ không có nổi một tờ giấy tùy thân hay một “sổ đăng ký hộ khẩu thường trú” của chế độ đương thời, vậy thì họ là ai, người Việt nhưng người Việt nào? Câu trả lời gần như được xếp chung một loại “thấy sang bắt quàng làm họ!” Quơ vào những cái quả thực không phải của mình. Mục đích của người làm phim đã quá rõ ràng. Chẳng qua là khán giả của loại chương trình này quá dễ dãi, họ dễ chấp nhận một cái vui nhỏ, một cái cười cợt dính ngoài môi, để quên đi những điều cốt lõi mà họ đang được mời tham dự, mà nội dung đã được tính toán, có dụng ý chính trị, của ông chủ chi tiền.

 

Phải chăng trong không khí rộn ràng của màu sắc, âm nhạc, da thịt, phấn son, ít ra trong một thời gian ngắn người ta quên được những khuôn mặt Việt Nam cần phải được cởi áo che tại Nhật, hàng nghìn khuôn mặt phụ nữ khổ đau xấu hổ không dám nhìn ai trên quê hương nhầy nhụa hôm nay.

 

Rõ ràng là chế độ tham lam, ham muốn chạy theo những thành công nhất thời của mỗi con người không phải trong xã hội của mình để áp đặt hai chữ Việt Nam, mà không chịu xây dựng được một con người tử tế ngay trong xã hội của mình.

 

Chúng ta hãy nghe phát biểu của ông Lê Kiên Thành, con trai ông Lê Duẫn, cố bí thư thứ nhất đảng CSVN, trên vietnam.net trong vài ngày gần đây: “…tôi cứ băn khoăn mãi. Hôm trước mở báo ra tôi cứ bị ám ảnh hình ảnh hai ông già đi ăn trộm gà bị bắt, bị đánh hộc máu mồm ra, rồi bắt ngậm con gà chết. Tôi cứ bàng hoàng, tự hỏi: ‘Chẳng lẽ đây là người Việt Nam chúng ta?’”

 

 

The post Là người Việt Nam! appeared first on GÓC NHÌN ALAN.


Đăng ký: Viet Blogs
Nguồn tin

Chủ Nhật, 11 tháng 10, 2015

Ở Hà Nội sống bằng ‘đường’ nào?

Nguồn tin: Góc nhìn Alan

Ở Hà Nội sống bằng ‘đường’ nào?

Tác Giả: Hoàng Giang – VOA – 9 Oct 2015

phố hà nội

Người dân ngồi dưới bóng râm để tránh nắng tại Hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội, Việt Nam.

Tôi về Hà Nội từ hè đã thấy vô số thông tin liên quan đến các loại “đường” cơ bản gặp vấn đề: đường cáp quang dưới biển bị đứt không ngừng, đường điện quá tải nên cắt luân phiên và gần nhất là đường ống nước vỡ, lần thứ 15 liên tiếp. Lạ là vụ vỡ ống nước sông Đà rõ ràng không được nhiều người quan tâm đến như việc mạng internet bị chậm hay đứt giữa chừng, mặc dù vỡ lần này là lần thứ 15, mới vào sáng ngày 26/9, trở thành một ký tích.

Tôi đem chuyện đi tán phét, bạn bè tôi chẹp miệng nói “ôi dào chuyện thường, hết nước tao tranh thủ đi bơi rồi tắm luôn tại đó” hay vài đứa khác vẫn vui vẻ an tâm vì nhà còn nước sạch dự trữ. Thì rõ là vỡ như cơm bữa, còn ai hơi đâu mà ngóng nghe bán tán. Tôi về nhà không có nước tắm ngày nào cũng “gào thét” khổ sở nhưng ngay lập tức bị bố mẹ than vãn đại loại như “sung sướng quá nên mất có tí nước cũng kêu, ngày xưa bố mày có nước đâu, nước gánh từ sông suối về phải tiết kiệm lắm đấy”… Tôi ngạc nhiên quá, ngạc nhiên vì mất nước toàn thành phố to gần nhất cái thế giới này 1, thì ngạc nhiên vì thái độ bình thản vô cùng với tình trạng không nước sạch của dân thủ đô 10.

Thế giới đang vươn tới 1 tầm cao mới, đó là dự trữ và cung cấp nước sạch cho các nước nghèo thiếu nước như ở châu Phi. Đây là một vấn đề cấp bách đến nỗi UNESCO ngay lập tức cho ra nghị quyết 64/292 thừa nhận quyền con người về nước sạch. Đây là một quyền cơ bản của con người trên thế giới. Chắc chắn ai cũng biết rằng con người có thể nhịn ăn, nhịn mặc chứ không thể nhịn uống nước. Việc uống nước sạch liên quan trực tiếp đến sức khỏe con người. Chính bởi vậy, việc xây dựng hệ thống đường ống nước một cách hiệu quả nhất để cung cấp đủ nguồn nước sạch mà không bị dư thừa đang là một trong những chính sách quan trọng tại các nước phát triển.

 

Nổi tiếng là đất nước Hà Lan với 2 Bộ riêng biệt chuyên xử lý về nước và có trách nhiệm ngang bằng Bộ giáo dục hay Bộ quốc phòng, do chính người dân sống tại đất nước không kể quốc tịch, độ tuổi bầu người lãnh đạo. Chính vì vậy, hệ thống cung cấp nước tưới tiêu và sinh hoạt tại đất nước này luôn hoạt động hiệu quả với mức giá rất rẻ. Tôi không muốn so sánh phẩm chất đường ống hay hệ thống xử lý nước sạch giữa 2 nước, điều tôi muốn nhấn mạnh là người dân Hà Lan luôn luôn biết và yêu cầu được sống với quyền cơ bản nhất của mình. Nhân dân đóng thuế và xứng đáng nhận được dịch vụ tốt nhất từ phía chính phủ.

Dân Việt Nam không như thế. Chỉ mới cách đây vài ngày, người Việt xôn xao vì một bài báo “Việt Nam là mô hình kỳ lạ nhất thế giới: nước… không chịu phát triển.” Một câu nói đùa đáng buồn và đáng suy nghĩ về nền kinh tế của Việt Nam so với thế giới. Tuy nhiên, có lẽ vì đi kèm chữ “nhất” trong tựa đề, nên tôi vẫn thấy mọi người nói về nó một cách hả hê, hãnh diện, ngầm ý rằng “là do ta không muốn mà thôi, chứ đã muốn là không phải dạng vừa đâu!” Đó là điều tôi nghĩ thầm vậy. Không phát triển có lẽ nào bởi từ chính những cá nhân nhỏ bé, đang hàng ngày không có nước uống cũng không một lời kêu ca, thay vào đó là chấp nhận và cảm thấy bình thường. Họ không lên án, không đấu tranh vì quyền lợi của chính bản thân mình.

 

Có những khu vực còn tự chế và cải tạo những giếng khoan cũ, không màng đến phẩm chất nước đã tồn đọng lâu ngày dưới lòng đất. Sống giữa lòng thủ đô mà người dân cứ ngày một ngày hai phải tự tìm cách sinh tồn như những người nguyên thủy. Họ có thể cứ ngày ngày vừa đào giếng, vừa chửi đổng chế độ với nhau 1-2 câu rồi vẫn xách nước về nấu cơm tắm rửa. Cùng phát triển nước giàu, dân mạnh cứ như câu nói đầu môi. Và rõ ràng, không chỉ là câu chuyện quyền con người về nước sạch, những quyền cơ bản khác cũng đã và đang tuột dần khỏi tay mỗi người dân sống trên đất nước này vì sự thờ ơ quá đỗi hồn nhiên.

 

Hoàng Giang

Trong lòng Hà Nội Blog

 

The post Ở Hà Nội sống bằng ‘đường’ nào? appeared first on GÓC NHÌN ALAN.


Đăng ký: Viet Blogs
Nguồn tin

Chợ Trời

Nguồn tin: Góc nhìn Alan

Chợ Trời

Minh Văn – ABS -  7 Oct 2015

“Xã hội bấy giờ người ta mua “ghế”, mua “dự án”, rồi “chạy chức”, “chạy quyền”, thật chẳng khác nào một cái chợ. Phong trào “mua” và “chạy” này nhố nhăng, thảm hại như một cơn lốc điên cuồng. Cơn lốc đó cuốn phăng đi nhà cửa, đất đai, mồ hôi công sức, máu và nước mắt của nhân dân. Không ai trao cho họ cái quyền được bán, nhưng họ vẫn bán, biết mua phải hàng lậu, họ vẫn cứ mua”.

Chợ Trời Hà Nội

Chợ Trời Hà Nội

Ở thủ đô Hà Nội có một cái chợ gọi là “Chợ Trời”. Tại đây người ta mua bán đủ thứ, cứ gọi là thượng vàng hạ cám vậy. Hàng cũ, hàng mới, hàng lậu, thậm chí là đồ ăn cắp cũng có nữa. Nếu xe máy bạn vừa bị mất trộm đôi gương, cứ ra chợ Trời thì sẽ thấy nó được bày bán, có điều bạn phải mua lại tài sản của mình với cái giá cắt cổ. Cái sự vô lý như vậy nhưng vẫn mặc nhiên được thừa nhận, cho nên chợ Trời là một hiện tượng rất độc đáo.

Hẳn chúng ta còn nhớ sự kiện đồng bào miền Bắc di tản vào Nam năm 1954. Lúc đó Cộng Sản vừa mới chiếm được miền Bắc, nhiều người dân đã phải bỏ nhà cửa và quê hương để chạy nạn. Ở Hà Nội tình hình cũng như vậy, những người này phải bán tất cả tài sản của mình mà ra đi. Để khách hàng dễ nhận biết, họ tập trung bán hàng thành một khu vực riêng, và chợ Trời được hình thành từ đó.

Thời bao cấp, chợ Trời lại là nơi tiêu thụ hàng “phe phẩy”, vốn có xuất xứ từ các cửa hàng tem phiếu quốc doanh. Hàng ăn cắp và “phe phẩy” đã trở thành đặc trưng của thời kỳ này. Lâu dần người Hà Nội quen hiểu chợ Trời theo nghĩa xấu đó, vì vậy mà dân gian gọi ví von là “Chợ Giời”, với hàm ý diễu cợt. Chợ Giời bao gồm đoạn cuối phố Huế và một phần của các phố Đồng Nhân, Trần Cao Vân, Chùa Vua, Thịnh Yên…ngày nay.

Chuyện cái chợ là vậy, nhưng chuyện nhà nước mà cũng giống như thế mới gọi là kỳ.

Xã hội bấy giờ người ta mua “ghế”, mua “dự án”, rồi “chạy chức”, “chạy quyền”, thật chẳng khác nào một cái chợ. Phong trào “mua” và “chạy” này nhố nhăng, thảm hại như một cơn lốc điên cuồng. Cơn lốc đó cuốn phăng đi nhà cửa, đất đai, mồ hôi công sức, máu và nước mắt của nhân dân. Không ai trao cho họ cái quyền được bán, nhưng họ vẫn bán, biết mua phải hàng lậu, họ vẫn cứ mua.

Trong cái chợ Trời rộng mênh mông bằng cả một đất nước này, người dân sợ nhất là các dự án công. Vì sau khi nhà nước quy hoạch những dự án đó, họ phải mua lại đất đai, nhà cửa cửa mình với cái giá đắt hơn gấp nhiều lần. Mọi chuyện chỉ xẩy ra trong thời gian ngắn, bằng một quyết định thành lập dự án, và sau đó là quyết định cưỡng chế có đóng con dấu đỏ chót. Trong cuộc mua bán ngược đời này, phần lỗ bao giờ cũng thuộc về nhân dân.

Chuyện quy hoạch và cưỡng chế thì nhiều lắm, vì nó diễn ra trên khắp đất nước hình chữ S này. Đặc trưng dễ nhìn thấy là sự hiện diện của đông đảo bộ đội, công an, dân phòng và những vụ đàn áp đẫm máu. Chuyện những người dân khiếu kiện và phản đối các dự án bị bắt bỏ tù cũng nhiều rồi, chúng ta sẽ không kể ra ở đây nữa.

Liên quan đến điều vừa nói trên, báo chí nhà nước cũng có đăng một câu chuyện như thế này. Ở tỉnh miền núi nọ, chính quyền địa phương lập dự án quy hoạch xây dựng một khu dân cư. Tất cả những hộ dân trong khu vực này đều được người ta đền bù đất đai, nhà cửa với giá rẻ mạt rồi đuổi ra khỏi nhà. Thế là họ trở thành những kẻ vô gia cư, phải đi ở nhờ nhà người thân thích. Chỉ vài tuần sau đó, họ thấy những mảnh đất của mình được nhà nước rao bán với cái giá đắt gấp năm lần. Muốn mua lại mảnh đất yêu quý của mình, nhưng những người dân đó làm gì có tiền, họ đành gạt nước mắt rồi ra đi. Chẳng ai biết họ đi đâu, vì nhà nước đâu có lo chuyện này. Thật là một vụ mua bán có hời, nhiều nước mắt và lắm đắng cay.

Những kẻ ham đường danh lợi bỏ ra cả đống tiền để chạy chức chạy quyền. Người ta rỉ tai nhau cái ghế này bao nhiêu, ghế kia thì bao nhiêu, cứ như là mua hàng ngoài chợ vậy. Những chức vụ lẽ ra do dân cử, bây giờ bị ngang nhiên đem bán. Một khi đã là mua bán thì phải có lãi. Dĩ nhiên là sau khi mua chức quyền, họ không thể kiếm lãi bằng cách phục vụ nhân dân, mà phải ra sức tham nhũng, lừa bịp và cướp bóc.

Ở thời buổi này, học sinh đi học phải chạy trường, sinh viên sau khi tốt nghiệp phải chạy việc. Người dân lấy tiền ở đâu để “chạy”? Dĩ nhiên là tiền mồ hôi công sức của mình, vì dân đâu có tham nhũng được.

Nhục nhằn và bất lực, người dân ngửa cổ lên trời mà than rằng: “Đây là nhà nước hay cái chợ Giời vậy?”.

Quả thực, bấy giờ Nhà Nước hay chợ Giời, chẳng ai còn phân biệt được nữa. Cho nên, nếu ví nó như cái chợ Giời cũng chẳng có gì là không đúng cả.

 

The post Chợ Trời appeared first on GÓC NHÌN ALAN.


Đăng ký: Viet Blogs
Nguồn tin

Thứ Ba, 6 tháng 10, 2015

Những ảo tưởng về TPP (Trans-Pacific Partnership)

Nguồn tin: Góc nhìn Alan

Những ảo tưởng về TPP (Trans-Pacific Partnership)

Alan Phan

27 July 2015

clouds-300x149

Đời sống không phải là một bài toán cần giải đáp mà là một thực tại cần trải nghiệm – Life is not a problem to be solved, but a reality
to be experienced – Soren Kierkegaard

Khoảng 2002, trong cuộc tranh cãi với một đại gia Mỹ, hai chúng tôi đánh cược vào một tình thế chính trị đang “hot” lúc bấy giờ. Khủng bố Hồi Giáo đã đánh sập tòa nhà World Trade Center ở New York năm ngoái, dân Mỹ sôi sục với an ninh quốc gia, và TT G. W. Bush đang chuẩn bị đổ quân vào Iraq, lấy lý do tiện lợi là Hussein có thể đe dọa Mỹ và thế giới với “weapons of massive destruction” (WMD, vũ khí có sức tàn phá diện rộng). Ông bạn đại gia Mỹ hờ hởi tin rằng cuộc chiến mới sẽ thay đổi bộ mặt chính trị và xã hội của Trung Đông, đặc biệt là kinh tế dầu khí… Là siêu cường duy nhất còn lại, khi Mỹ kiểm soát nguồn năng lượng quan trọng này, thế giới sẽ có Pax Americana (thời đại thanh bình kiểu Mỹ)….

Quan điểm trái ngược của tôi là bộ mặt Trung Đông đã hình thành qua cả ngàn năm lịch sử, văn hóa, chính trị, xã hội, giáo dục… nó sẽ không thể thay đổi trong vài năm chỉ vì Mỹ và ông Bush có ước muốn như vậy. Dù lý tưởng và triết thuyết có hay đẹp đến đâu, thực tại luôn là một “son of a bitch” (con chó đẻ). Tôi kết luận là sau 2 nhiệm kỳ (nếu ông Bush tái cử) , Iraq sẽ không khác gì ngày nay, a messy nation under some form of dictatorial regime (một quốc gia hỗn loạn dưới một hình thức độc tài nào đó). Riêng Trung Đông, it’s the same old story (thành ngữ VN là –vũ như cẩn).

Lúc đó, căn nhà ở Hồng Kông của tôi có trưng bày một lộc bình thời Khang Hy rất quý. Tôi không sưu tầm đồ cổ, nhưng mua được với giá quá hời từ một công ty nhà nước nhỏ ở Xian (Tây An).  Ông đại gia Mỹ thèm thuồng đòi mua lại, thuê cả người định giá là khoảng 30 ngàn đô la, nhưng tôi không bán. Sẵn đó, ông cược với tôi là nếu nhận xét của ông đúng, khi Iraq và Trung Đông đã ngoan ngoãn trong vòng tay Mỹ, thì 6 năm nữa, ông sẽ làm chủ chiếc lộc bình này. Nếu ông sai, ông sẽ ghé Hồng Kong và trả tôi 30 ngàn tiền thua cuộc. Tôi đồng ý, nhưng năm sau, vợ tôi bán chiếc lộc bình khi trang trí lại nhà cửa (không biết sau này ông TBT Trọng có là chủ nhân?). Tôi thấp thỏm cả mấy năm trời, nghĩ là phải mất 30 ngàn nếu thua cược. May mắn sao, trước khi TT Bush hết nhiệm kỳ hai, ông đại gia Mỹ ghé Hồng Kong, tìm tôi và trả tôi chi phiếu 30 ngàn đô la như một gentleman.

TPP và cao trào của hy vọng

Vừa rồi, khi đài truyền hình Saigon TV ở California phỏng vấn tôi về TPP, tôi tranh luận với ông bạn cũ Lương Đức Hợp, là TPP sẽ chẳng thay đổi gì bộ mặt chính trị và xã hội của Việt Nam chút nào trong thập niên tới. Về kinh tế vĩ mô thì TPP có thể ảnh hưởng nhưng không nhiều; riêng lợi và hại cho Việt Nam cũng chưa chắc đã cân xứng như những lời xưng tụng.

Trước khi tôi trình bày quan điểm, anh Hợp cho rằng TPP, theo pháp lý, sẽ bắt Việt Nam phải thay đổi cơ chế theo thị trường, quyền điều hành công đoàn sẽ tự do hơn, nhân quyền được tôn trọng, bản quyền trí tuệ được bảo vệ và quyền lợi của doanh nghiệp tư nhân sẽ do pháp trị định đoạt. Khi vào TPP, Việt Nam sẽ được công nhận chính thức là một thành viên mới của nền kinh tế liên thông, sẽ gia tăng xuất khẩu, cùng thu nhập của người dân và quan trọng nhất, là Việt Nam sẽ đứng về phía Mỹ để thoát Trung.

Tôi nhắc lại, thực tại là son of a bitch. Về pháp lý và cơ chế “hành” chính, Việt Nam có một hiến pháp vừa hoàn thiện, một bộ luật dầy đặc những khôn ngoan của mọi triết thuyết, và một bộ máy gồm toàn các tiến sĩ, giáo sư, học giả…với đủ loại bằng cấp đen trắng đỏ vàng. Nhưng mọi tầng lớp của xã hội, từ người làm ra luật, thi hành luật, hay “chịu đựng” luật… đều giống nhau ở chỗ “nobody give a shit” (không ai quan tâm). Xui bị công an kêu lại thì lo mà móc túi nộp mãi lộ. Không mấy ai mất thì giờ (hay mất mạng) để tranh cãi trừ khi mắc bệnh tâm thần (kiểu VN).

Ảo tưởng muôn đời của lý tưởng Âu Mỹ

Mọi điều phân tích khác của anh Hợp rất tương tự với  lý luận mà Nixon và Kissinger đã “bán” cho dân Mỹ 43 năm trước, khi ôm hôn Mao và “mở cửa” Trung Quốc. Hai ông chính trị gia cho rằng nếu giúp cho Trung Quốc giàu có thịnh vượng hơn, chính quyền Cộng Sản sẽ “tự diễn biến” và trở nên dân chủ, tự do, nhân đạo, hòa bình…hơn. Sau đó, tiền ào ạt đổ vào Trung Quốc, vô sản biến thành “tư bản đỏ” nhưng các vị tư bản COCC này lại rất khác biệt với những hình tượng về tư bản mà Mỹ mong ước. XHCN theo sắc mầu Trung Quốc hay Thiên An Môn là một miếng xương hóc búa khó nhai cho Mỹ và những đồng minh.

Lợi và hại của TPP trên nền kinh tế Việt

Ngoài cái ảo tưởng phổ thông nói trên, hiệp định TPP còn chất chứa nhiều ảo tưởng khác. Nhưng trước khi bàn sâu về ảo tưởng, cho tôi định vị lại những “lợi” và “hại” của TPP với nền kinh tế Việt Nam.

Những cái lợi thì các mạng truyền thông và chuyên gia của chính phủ đã “ca cảnh” quá nhiều:

-          Mở rộng thị trường xuất khẩu qua nhiều quốc gia thành viên, tạo hiệu ứng tăng trưởng mạnh mẽ cho GDP và thu nhập cá nhân (dựa trên GDP);

-          Lượng FDI và FII (đầu tư trực tiếp và gián tiếp của nước ngoài) sẽ gia tăng vì theo TPP, hàng rào thuế quan, bản quyền trí tuệ và thao túng tỷ giá…sẽ giảm thiểu tối đa. Ngoài ra, khi đầu tư nhà máy vào Việt Nam, những dự án FDI từ Trung Quốc hay Hàn Quốc sẽ hưởng lợi từ thị trường của các quốc gia thành viên. Cũng trong khung cảnh tích cực đó, kiều hối (một thành tố vô cùng quan trọng cho ngân sách) sẽ tát nước theo mưa.

-          Khi kinh tế phát triển và hội nhập sâu, nhu cầu lao động sẽ lên cao hơn và cấp chuyên viên sẽ hăng hái trau luyện kỹ năng thêm để tăng thu nhập.

-          Với chuẩn mực mới về cạnh tranh quốc tế, có thể sản phẩm và dịch vụ của các doanh nghiệp Việt sẽ được cải thiện về chất lượng, công nghệ và thương hiệu.

Những cái lợi trên cũng đi kèm với vài thực tế hơi chua chát và  những cái hại mà TPP sẽ gây ra cho nền kinh tế:

-          Hiện nay, 72% tổng lượng xuất khẩu của Việt Nam là từ các doanh nghiệp FDI. Tôi không tìm ra dữ liệu là phần chia lại cho lao động và thuế lợi tức của Việt Nam được bao nhiêu phần trăm? Tôi đoán là dưới 5% vì giá nhân công quá rẻ, gia công những phân khúc sản xuất nhỏ là chính, rồi chánh phủ lại miễn trừ nhiều loại thuế với giá khuyến mãi cho đất đai hạ tầng. Như tình trạng đã xẩy ra cho Trung Quốc, khi những điều kiện kiếm tiền của nhà đầu tư ngoại kém đi (giá nhân công, thuế, luật, giá đất…lên cao) , họ sẽ đi tìm những nơi chốn khác.

-          Kỹ năng chuyên viên và chất lượng sản phẩm có tăng nhưng sức cạnh tranh của doanh nghiệp nội địa rất yếu. Như một cậu học trò mẫu giáo được khuyến khích để bắt kịp các bạn đã vào đại học. Việc khả thi sẽ là một vấn nạn về khoảng cách kiến thức, tư duy và thời gian.

-          Với TPP, chúng ta không kiếm được nhiều ở các thị trường Âu-Mỹ-Nhật, nhưng thị trường nội địa phải được rộng mở để hàng ngoại tự do xâm nhập. Khi sản phẩm Việt bị giá rẻ của hàng Trung Quốc, Thai Lan cạnh tranh từ phía thấp, còn lại bị đè bẹp bởi chất lượng của hàng Âu, Mỹ, Nhật…ở phía trên; thì lợi thế cạnh tranh càng ngày càng thu hẹp cho mọi doanh nghiệp Việt.

-          Đáng quan tâm nhất là lĩnh vực nông nghiệp: lúng túng với bộ máy “hành” chính nông thôn, phí thuế ngất ngưỡng cao rồi lối canh tác cổ truyền manh mún, nông dân Việt sẽ chịu gánh nặng khủng của TPP.

-          Trong khi đó, với dòng tiền mới từ FDI và kiều hối, quyền lợi và quyền lực của nhóm nhỏ siêu giàu sẽ gia tăng mạnh mẽ. Các phe nhóm không những kiểm soát mọi hoạt động huyết mạch như tài chánh ngân hàng chứng khoán; mà còn tạo ra các chính sách hổ trợ đắc lực cho những dự án BDS, xây dựng hạ tầng, khai thác khoáng sản…của phe nhóm.

Chuyện nhân quyền

Giữa lợi và hại, tùy vị thế chánh trị và xã hội, TPP sẽ khiến vấn đề “nhân quyền” trở nên ít cấp bách hơn vì người Việt chỉ cần chút cải thiện về mức sống vật chất là đã thỏa mãn và chấp nhận mọi bất cập từ chính phủ. Chúng ta thấy rõ là sau khi “đổi mới”, cho đến nay, môi trường sinh hoạt của Việt Nam còn xuống cấp, tệ hơn cả Lào, Kampuchia (chưa cần so sánh với Singapore hay Hàn Quốc); nhưng phần lớn người Việt, kể cả các giới trẻ, đã happy ăn nhậu, cà phê, mê chuyện siêu sao, đá bóng…mà không quan tâm đến chính trị hay văn hóa. Mặc cho nước ngập mỗi ngày mưa tại Hà Nội và Saigon, hay ô nhiễm thực phẩm, không khí, hay kinh tế bị Trung Quốc đô hộ; dân Việt vẫn được tiếng là “hạnh phúc và lạc quan” nhất nhì thế giới. Khi người dân địa phương không “care” thì mọi hoạt động về nhân quyền của các hội đoàn trong hay ngoài nước sẽ èo uột hơn. Các chính phủ Âu, Mỹ…cũng sẽ thờ ơ với vấn nạn này, không cần phải đánh võ mồm để làm vui lòng nhóm cử tri gốc Việt.

Ảo tưởng của hai bên

Cùng với một thực tại khá chua chát, TPP là xúc tác cho vài ảo tưởng khác của nhiều thành phần.

Ngoài ảo tưởng về dân chủ tự do như đã nói bên trên, chính phủ Mỹ luôn mơ về một Việt Nam mạnh mẽ, liên minh với các đồng minh tư bản để chặn tham vọng bá chủ của Trung Quốc trong khu vực. TT Obama còn gắng hoàn thành việc “xoay trục về châu Á” và TPP như một di sản lịch sử vào cuối nhiệm kỳ. Cái giá phải trả cho ảo tưởng này thực ra không to lớn lắm so với kích cỡ của kinh tế Mỹ, nhưng thất vọng là thất vọng. Quan hệ giữa chính phủ và đảng CS của Việt Nam và Trung Quốc sâu xa hơn cả 16 chữ vàng. Thực ra nó là “lá chắn” của cả 2 đảng bộ trước “diễn biến hòa bình”, đồng nghĩa với sự sinh tồn và quyền lực của vài chục triệu đảng viên tại 2 nước.

Trong khi đó, nhiều quan chức và chuyên gia Việt Nam lại ảo tưởng quá nhiều về “con bài” Mỹ trong bàn cờ mà họ cho là khôn ngoan, thủ đoạn của họ. Họ tin rằng chỉ việc để cho tư bản Mỹ vô làm ăn; rồi chém gió vô tội vạ về nhân quyền, tôn giáo, công đoàn…là chính phủ Mỹ sẽ mở rộng hồ bao (và biên giới) để các quan chức kiếm tiền và giấu tiền. Thêm vào đó, nếu đàn anh Trung Quốc có ức hiếp bóc lột nhiều quá, như chiếm đất chiếm biển…thì quân đội Mỹ sẽ mạnh tay can thiệp. Chính phủ Mỹ dù đôi khi giả vờ ngây thơ, nhưng khối điều nghiên chính trị, kinh tế của họ luôn nhậy bén. Họ biết tính ra từng con số (tiền hay sinh mạng) để thẩm định giá phải trả. Không cân xứng là không thực hiện, mặc cho những sáo ngữ “đối tác toàn diện” hay “toàn bịp”.

&&&&&

TPP không phải là hiệp ước thương mại tự do (free trade agreement –FTA) duy nhất của Việt Nam. Trong 2 năm qua, Việt Nam đã ký 8 FTA với ASEAN, ASEAN + , Hàn Quốc, Chile, Liên Minh Nga-Kazakistan-Belarus…Kết quả của các FTA này không gì là ấn tượng, vì ngoài những doanh nghiệp FDI, công ty nội địa Việt chưa đủ sản phẩm và dịch vụ chất lượng, giá cao để xâm nhập những thị trường này. Mức sống người dân không có cải thiện gì đáng kể. Nghịch lý và mâu thuẫn còn trùng điệp trong xã hội và cơ chế. Chỉ có những quan chức và đại gia là có thêm những phần bánh ngon ngọt.

Bây giờ, nếu được gia nhập TPP, miếng bánh này có thể lớn gấp nhiều lần các FTA hiện tại. Và may mắn thì người dân sẽ có chút mảnh vụn tung tóe đâu đó. Các lãnh đạo 2 chánh phủ Việt, Mỹ sẽ hờ hởi khen tặng nhau vì dù sao, TPP cũng là một cột mốc lịch sử như… hiệp định Geneva, hiệp định Paris, hay WTO hay hiệp ước song phương Việt-Mỹ.

Nhưng với khách quan của người ngoài cuộc, thì TPP là khi kẻ cắp gặp bà già.

Alan Phan

The post Những ảo tưởng về TPP (Trans-Pacific Partnership) appeared first on GÓC NHÌN ALAN.


Đăng ký: Viet Blogs
Nguồn tin

Cầu An

Nguồn tin: Góc nhìn Alan

CẦU AN

Ông Giáo Làng – Blog - 3 Oct 2015

peace of mind

Nói theo ngôn ngữ tâm linh thời thượng, vừa rồi, tôi có “hạn”. Chuyện là thế này:

Sau chuyến đi Hà Giang cuối tháng 9, tôi bị đau mắt. Chỉ qua một buổi tối, hai mắt sưng húp, nhức nhối, nhìn rất khó khăn. Hôm sau đi khám, bên cạnh việc kết luận bị đau mắt đỏ, cho đơn mua thuốc, bác sĩ còn cảnh báo:

- Hai mắt bác thủy tinh thể đều đục, nên xử lý sớm.

Tháng sau, gặp một nguời bạn Trưởng khoa mắt của một bệnh viện, anh khẳng định họ khuyên thế là đúng, nên thay thủy tinh thể nhân tạo sớm vì kỹ thuật đơn giản, tránh để lâu ngày, sau đó xử lý sẽ phức tạp.

Thế là tôi quyết định đi mổ mắt.

Sau vài lần tới bệnh viện làm các loại xét nghiệm, chiếu chụp, siêu âm, … bác sĩ bảo sang ngồi chờ ở phòng mổ. Phấn khởi vì bao “cửa ải” đã qua, vừa đi được mấy bước thì… ngã. Và cái tay bị gãy. Thế là việc mổ mắt phải tạm hoãn nhường chỗ cho việc bó bột cánh tay.

Nhiều nguời, khi gặp những sự không may thường tìm nguyên nhân từ những lực lượng siêu nhiên qua mấy ông thầy tướng. Con ốm, thầy phán do bà cô Tổ phạt vì cha mẹ trễ nải việc hương khói. Gặp tai nạn giao thông, thầy phán  do gặp phải ngày xấu, lại ra khỏi nhà vào giờ xấu, … nghĩa là những nguyên nhân không thể ai biết được, trừ thầy.

Xem ra trong lịch sử nước Nam ta, khó có ai giỏi hơn được Trạng Trình Nguyễn  Bỉnh Khiêm cả về nho, y, lý, số. Trong đời, cư sĩ am Bạch Vân chắc đã “phán” cả trăm nghìn câu, nhưng cho tới nay, hình như nguời ta chỉ thấy đúng đâu có chưa được dăm câu. Thế mà các thầy tướng số tân thời, phán câu nào được nguời ta tin sái cổ câu ấy (kể cả các vị mang học hàm học vị giáo sư tiến sĩ) thì quả là các bậc cao minh hiếm gặp.

Những chuyện “tâm linh”, “ngoại cảm” gần đây, đem xương trâu xương lợn biến thành hài cốt liệt sĩ, chuyện “hô phong hoán vũ” được “chém gió” ầm ầm càng tỏ cái thiếu sáng suốt của niềm tin mà căn cứ rất mù mờ của không ít nguời.

Tôi vốn “văn dốt vũ dát”, không đủ trình độ hiểu được cái “huyền bí” của Tạo Hóa nên khi gặp phải sự gì không may, thường trước hết tìm nguyên nhân từ chính bản thân mình. Ngay khi ngồi chờ kết quả chụp phim chuyện gãy tay, tôi đã “tự kiểm điểm” một cách nghiêm khắc bản thân:  tôi bị ngã gãy tay vì hôm ấy chân trái đau, lại bước đi hơi vội. Hơn nữa, đôi giày đi hôm ấy chỉ phù hợp với đất vườn (đế giày có đinh cứng, có thể cắm sâu vào đất tránh bị trượt ngã), lại đi trên sàn gạch men láng bóng nên việc bị trượt là điều dễ hiểu. Và (không biết có phải tinh thần AQ hay không), trong cái rủi lại thấy có cái may: ngã ngay trong bệnh viện nên việc cứu chữa rất “tiện lợi”, ngã trong bệnh viện chứ không phải trên đường đi chơi bằng xe máy nên không thể bị trách cứ rồi dẫn tới bị “cấm vận”; và sau đó, suốt hàng tháng mang cái tay bó bột lại thấy thêm may vì có cơ hội để phần nào thấm thía với  câu tục ngữ (dù đã thuộc từ lâu) “Giàu hai con mắt, khó hai bàn tay”.

Vì “thực sự cầu thị”, không trông chờ vào những lực lượng siêu nhiên, những việc tôi tính, tôi làm thường “thông đồng bén giọt”.

Không có điều kiện tìm hiểu nhưng qua những điều được chứng kiến cùng kinh nghiệm bản thân, tôi tin vào những hiểu biết mang tính chất “duy vật thô sơ” của mình. Cuộc sống của mỗi nguời do chính bản thân con nguời đó quyết định  có được sự hỗ trợ thêm của gia đình, quê hương và nơi, hoàn cảnh  sinh sống,… Chẳng nên tin vào một lực lượng thần bí nào.

Tôi biết trong cuộc sống, vẫn có nhiều điều bí ẩn, chưa thể giải thích được đó là do khoa học chưa phát triển chứ không còn tin có những lực lượng thần bí chi phối cuộc sống con người. Chẳng lẽ nguời phương Tây họ ở một thế giới khác ta? Vì sao không cầu cúng, lễ bái như ta, họ vẫn có cuộc sống văn minh, có nhiều thành tựu, … hơn ta. Cho nên, tín ngưỡng là một nét đẹp văn hóa thì nên gìn giữ, đây chính là “bản sắc dân tộc” khiến con người  trên Trái đất này có sự đa dạng, phong phú về văn hóa. Thế thôi!

Ngay triết lý “ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác” tôi cũng chỉ nghĩ đó là mơ ước nghìn đời của con người. Mơ ước đó khiến cuộc sống của chúng ta nhân ái, thiện lương hơn nên cần khuyến khích. Thực tế cuộc sống, vô khối nguời hiền lành, nhân đức đã chịu những “tai bay vạ gió”, còn những kẻ gian ác, xảo quyệt, thậm chí phạm vào vô khối điều cấm kỵ vẫn sống, thậm chí còn giàu sang phú quý, công danh đàng hoàng.

Với các bậc tiền nhân, tôi cúng giỗ chu đáo là do lòng thành của con cháu với cha ông, một cách tỏ tấm lòng “uống nước nhớ nguồn” chứ không phải sợ các vị “tác phúc giáng họa”. Tôi tử tế với mọi người, không ganh ghét, giành giật, sẵn sàng giúp đỡ bất cứ ai trong phạm vi khả năng của mình  chỉ vì từ nhỏ, Ông Bà, Cha Mẹ  đã dạy, và một khi nhân hòa với đồng loại, tôi thấy cuộc sống của mình thanh thản hơn chứ không phải để hy vọng gặp may mắn hơn. Tôi không làm điều ác không phải vì sợ “ác giả ác báo” mà vì được dạy nhân hậu, khoan hòa từ bé, không thể làm những điều trái với lương tâm. Thỉnh thoảng, có tham gia những  hoạt động từ thiện cũng chỉ vì lòng “thương nguời như thể thương thân” chứ hoàn toàn không nghĩ tới làm thế là để “tích phúc” cho con cháu vì tôi vốn nghĩ  chuyện “tích phúc”, chẳng qua đó là cách để nguời xưa khuyến khích những hành vi này mà thôi.

Cứ xem hàng năm, nguời ta đi lễ cầu an, chen vai thích cánh nơi chùa chiền, hàng nghìn nguời ngồi lấn ra cả  hè, cả đường mà thấy vừa buồn cho ý thức chấp hành luật pháp, vừa buồn vì cái sự thảm hại khi toàn các trai thanh gái lịch, nguời khỏe mạnh sức dài vai rộng, các ông các bà bằng cấp học vị đầy thân, .. không tự mình  quyết định cuộc đời mình lại đi trông ngóng, cầu xin ở những đẩu những đâu!

Hãy cầu an bằng cách sinh hoạt điều độ theo đúng cách mà khoa học đã khuyên bảo; cầu an bằng cách đừng rượu bia, cà phê thuốc lá quá mức cho phép; cầu an bằng cách giữ đúng luật giao thông mỗi khi ra đường; cầu an bằng cách cẩn trọng mỗi khi nói năng, hành động; cầu an bằng cách đừng ham hố danh lợi, vừa lòng với cuộc sống đạm bạc về vật chất nhưng phong phú về tinh thần; cầu an bằng cách luôn luôn để trong lòng thanh thản, không phải ăn năn về những lầm lỗi, cũng không phải bị kích động vì những ước muốn viển vông, …

Còn một khi đã cẩn thận giữ gìn nhưng có gặp “tai bay vạ gió” thì âu cũng coi đó là một trong những sự ngẫu nhiên (có may và có rủi) mà ta có muốn tránh cũng không tránh được.

Nguời xưa đã dạy: “Linh tại ngã, bất linh tại ngã”. Đôi chút tâm sự để mọi người nhất là các bạn trẻ tham khảo.

 

P/S: Bài này tôi viết từ lâu, nhưng khi có dự định Xuyên Việt lần thứ 2 chưa dám “công bố”, sợ “nói trước bước không qua”.

 

The post Cầu An appeared first on GÓC NHÌN ALAN.


Đăng ký: Viet Blogs
Nguồn tin

Đã Trở Lại “bình thường”

Nguồn tin: Góc nhìn Alan

Nghịch lý chua chát

Song Chi – Blog – 3 Oct 2015

Kể từ khi những dòng người VN đầu tiên liều mình một sống một chết để tìm đường vượt biên, thoát khỏi “thiên đường XHCN” trên những chiếc thuyền nhỏ bé giữa biển khơi mênh mông, dữ dằn cho đến nay, đích đến được nhiều người nhắm nhất là nước Mỹ. Vì vậy mà cộng đồng người Việt lớn nhất ở nước ngoài là ở Mỹ với khoảng hơn 2 triệu người.

thuyen nhan

Hơn 40 năm trôi qua, người Việt vẫn tiếp tục tìm mọi cách ra đi, bằng nhiều con đường khác nhau, đi lao động xuất khẩu rồi tìm cách trốn ở lại, đi bằng đường hôn nhân thật và giả, đi học rồi kiếm được việc và ở lại, đi theo diện work permit-đi làm, đi theo diện kinh doanh, cho con đi học gọi là “tỵ nạn giáo dục”, học xong tìm cách ở lại v.v…Dòng người, cả chất xám và tiền bạc tiếp tục thoát ra khỏi ngôi nhà VN tràn về các nước có đời sống tốt đẹp hơn, trong đó nhiều nhất, vẫn là Hoa Kỳ.

Tự dưng thắc mắc, ừ thì hồi xưa người Việt ở miền Nam chạy trốn khỏi chế độ cộng sản muốn đến Mỹ vì đó là nước đồng minh (cho dù đồng minh đã phản bội nước mình) cũng là điều dễ hiểu, bất chấp việc bị nhà cầm quyền và cả người dân miền Bắc hồi đó chưa hiểu chuyện mắng nhiếc là chạy theo đế quốc để ăn cơm thừa bơ sữa cặn. Người Việt sau này tìm đường đi Mỹ vì đó là cường quốc có nền tự do dân chủ lớn nhất thế giới, cho con đi học ở Mỹ vì Mỹ là một trong những nước có nền giáo dục tốt nhất thế giới…cũng hiểu được luôn; ngay cả việc gần đây tù nhân lương tâm bị nhà cầm quyền tống thắng sang Mỹ cũng vì chỉ có Mỹ chấp nhận không điều kiện “món hàng đặc biệt” này. Nhưng còn những quan chức của chế độ, những người miệng ra rả chửi Mỹ, bênh đảng bênh chế độ họ cũng chạy qua Mỹ là sao?

 

Từ những người không có chức vụ gì như một người quen mà tôi biết trước đây luôn tự hào về quá khứ từng là văn công đi phục vụ chiến trường, rất bênh chế độ, sẵn sàng nổi đóa lên nếu có ai “nói xấu” chế độ và một hai bảo mình chỉ sống ở VN, ra nước ngoài buồn lắm, chán lắm…Mấy năm không nghe tin, hỏi lại mới biết cũng đã lấy một ông Việt kiều và đi sang Mỹ rồi! Cho tới hạng tôm tép về mặt quyền chức nhưng là một bồi bút có cỡ, lúc nào cũng cao giọng bênh đảng bênh chế độ như một bà cựu Tổng biên tập một tờ báo mà giới blogger, nhà báo “lề trái” quá rõ mặt, cũng chạy sang Mỹ, cả gia đình. Và hàng trăm hàng ngàn quan chức Việt Cộng từ thấp đến cao, đến cả …..!

 

Nghĩ thật chua chát, oái ăm. Suốt mấy chục năm đảng cộng sản tìm cách đẩy cả dân tộc vào con đường chiến tranh, quyết đánh và đánh tới cùng bất chấp lương tri, đạo nghĩa, xương máu của bao người, cả dân tộc này, đất nước này phải trả một cái giá vô cùng đắt cho cái mục tiêu mà họ gọi là “chống Mỹ cứu nước”. Còn bây giờ, sau khi vơ vét cho bằng hết mọi tài nguyên, tài sản của nhân dân đất nước, họ thu tóm về cho mình, cho gia đình để làm một cuộc rút chạy êm ả và công khai sang Mỹ và các nước tư bản mà ngày xưa họ chửi rủa không tiếc lời. Chỉ có nhân dân, nhất là tằng lớp dân nghèo, là muôn đời khốn nạn, biết chạy đi đâu?

 

Mà ngẫm nghĩ lại thì trên đất nước này kể từ khi có đảng, có cái gì mà không trở thành nghịch lý, đảo ngược 180 độ, bất bình thường, đi ngược mọi quy luật phát triển bình thường của thế giới?

 

Song Chi

 

The post Đã Trở Lại “bình thường” appeared first on GÓC NHÌN ALAN.


Đăng ký: Viet Blogs
Nguồn tin

Nguồn Tin Mới